Kinh tế quân đội

    Chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Bộ đội lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế, Ngày truyền thống Cục Kinh tế/BQP (23/8/1956 - 23/8/2021) và đón nhận Huân chương Lao động Hạng 3

Chào mừng Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2-9:
Vai trò Quỹ Độc lập và Tuần lễ Vàng trong nền tài chính Nhà nước Cách mạng non trẻ

09/09/2021, 10:09

Sau cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9/1945, chính quyền cách mạng các cấp trong cả nước được thành lập. Nhưng, với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 23/9/1945, quân Pháp núp sau quân Anh trở lại gây hấn ở Nam Bộ. Dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc, đi theo chúng là bọn phản động Việt quốc, Việt cách. Ở miền Bắc, nạn đói và dịch bệnh khủng khiếp vừa cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người; lũ lụt gây vỡ đê ở Bắc Bộ cướp đi 29 vạn tấn thóc, 60% diện tích lúa màu bị hỏng, phần lớn diện tích gieo trồng bị bỏ hoang; hàng hóa khan hiếm rất nghiêm trọng; công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn; hơn 90% dân số mù chữ... Cùng một lúc, Nhân dân ta phải chống “giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt”. Chính quyền cách mạng mới thành lập, chưa được củng cố, tài chính kiệt quệ, không có nguồn thu. 

Đông đảo các tầng lớp nhân dân thủ đô mít tinh ủng hộ Tuần lễ Vàng. (Ảnh tư liệu).

Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, mọi công việc của chế độ mới từ tổ chức bộ máy Nhà nước, xây dựng lực lượng vũ trang, chống giặc đói, khắc phục thiên tai… cần có lượng tài chính rất lớn. Cũng lúc ấy, khoản nợ ngắn hạn 564 triệu đồng Đông Dương đến hạn phải thanh toán, mà ngân khố quốc gia chỉ còn gần 1,3 triệu đồng với một nửa là tiền hào giấy rách nát và đồng tiền mất giá thê thảm. Do hậu quả vơ vét tàn bạo hơn 80 năm của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đất nước sơ xác, kiệt quệ. Một số kho thóc lớn ở các thành phố bị quân Nhật vẫn canh giữ, nạn đói vẫn hiện hữu khắp nơi... 
 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ lâm thời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải giữ vững quyền tự do và độc lập” vừa giành được. Bằng sách lược mềm dẻo, khôn khéo, vừa hòa hoãn, vừa phân hóa cô lập kẻ thù, chúng ta đuổi được quân Tưởng, quân Anh cùng bè lũ phản động ra khỏi bờ cõi. Đồng thời, tranh thủ thời gian hòa hoãn, động viên toàn dân nhanh chóng khôi phục, phát triển sản xuất; mở lại các nhà máy do Nhật bỏ; khai thác các mỏ, cho tư nhân góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy; khuyến khích giới công thương mở hợp tác xã, mở các cổ phần tham gia kiến thiết lại nước nhà; sửa chữa đê điều, lập quốc gia ngân hàng, phát hành giấy bạc, định lại các ngạch thuế, lập các ngân quỹ toàn quốc và các tỉnh... Đồng thời tích cực, bí mật chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng kháng chiến. Bởi “Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”(1)
 
Để nhanh chóng chống giặc đói, ngay sau Quốc khánh, ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động “Chiến dịch tăng gia sản xuất” và kêu gọi đồng bào cả nước thực hiện “Ngày đồng tâm” nhường cơm, sẻ áo cho nhau và giúp đỡ chiến sỹ. Người gương mẫu thực hiện trước, cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa để dành gạo ủng hộ đồng bào, chiến sỹ; Nhân dân noi gương Bác, cứ mỗi tuần mỗi người nhịn ăn 1 bữa gọi là “Ngày đồng tâm”. Trong thư gửi nhà nông, Người chỉ rõ: “Hiện nay, chúng ta có hai việc quan trọng nhất: Cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam. “Thực túc thì binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói, chúng ta thực hiện “tấc đất, tấc vàng”... Đó là cách làm thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”(2). Nhân dân ta hưởng ứng “chiến dịch tăng gia sản xuất” như đi chiến đấu, chống giặc đói như chống giặc ngoại xâm. Những “Hũ gạo cứu đói” và phong trào “Tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa” nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chính phủ bỏ ngay thuế thân, thuế chợ, giảm tô 25%... và thành lập “Quỹ đảm phụ quốc phòng”, quy định mỗi người đóng 5 đồng (VNĐ) để nuôi chiến sỹ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; điều chuyển 700 tấn gạo từ miền Nam ra... Chỉ trong thời gian ngắn, giá gạo ở Bắc Bộ từ 7 đồng giảm còn 2 đồng/1 kg, nạn đói bị đẩy lùi(3).
 
Lúc này, quân đội quốc gia - công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới hình thành, “lương thực, khí giới, chăn, áo, thuốc men, cái gì cũng thiếu thốn”. Để giải quyết khó khăn về tài chính, ngày 4/9/1945, Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh số 04 lập “Quỹ Độc lập”, động viên mọi người dân yêu nước góp tiền, góp của ủng hộ nền độc lập, giúp Chính phủ bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu nhất. Trong khuôn khổ “Quỹ Độc lập”, ngày 17/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và kêu gọi đồng bào cả nước hưởng ứng “Tuần lễ Vàng”. Trong thư gửi cho đồng bào toàn quốc nhân dịp “Tuần lễ Vàng”, Người nêu rõ mục đích của việc lập quỹ là: “Thu góp số vàng trong Nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”. Nhân dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng các cuộc lạc quyên đó. Và đã xuất hiện ca dao cổ động quần chúng tham gia phong trào:
 
“Đeo bông chỉ tổ nặng tai
Đeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng!
Làm dân một nước vẻ vang
Đem vàng cứu nước giàu sang nào tày!
Góp vàng đổi súng cối xay
Bắn tan giặc, nước có ngày vinh quang
Mỗi khi người bước ra đàng
Cổ tay chẳng xuyến, chẳng vàng dễ coi
Lúc này làm dáng càng nhơ
Hãy đem vàng để phụng thờ nước non!
Người còn thì của hãy còn
Nước tan, nhà mất vàng son làm gì!”
 
Nhiều gia đình đã đem hết tiền vàng, của gia bảo...; nhiều phụ nữ đem hết đồ nữ trang, vật kỷ niệm quý giá ủng hộ quỹ. 
 
Tại Hà Nội, từ những người lao động nghèo đến những nhà tư sản, điền chủ... đều hết lòng đóng góp cho “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ Vàng”. Trong số những người tích cực tham gia các cuộc lạc quyên ở Hà Nội, tiêu biểu là gia đình thương nhân Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Minh Hồ, chủ tiệm vải Phúc Lợi - số 48 Hàng Ngang (đây cũng là ngôi nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và viết Tuyên ngôn độc lập). Thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhờ ông bà Trịnh Văn Bô chuẩn bị một bữa tiệc chiêu đãi tướng quân Tưởng; đồng thời, để cho chúng rút 20 vạn quân khỏi nước ta, Bác còn nhờ ông bà chuẩn bị tiền lót tay 200 vạn Đông Dương cho Tiêu Văn, 300 vạn cho Lư Hán và 500 vạn cho Ứng Khâm. Ông bà đã phải bán phá giá số vải có trong nhà. Nạn đói năm 1945, ông bà đã xuất kho cứu đói khắp nơi. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động “Tuần lễ Vàng”, gia đình ông Trịnh Văn Bô ủng hộ 117 lạng vàng. Vợ chồng ông Trịnh Văn Bô còn là thành viên cốt cán trong Ban vận động “Tuần lễ Vàng”. Trong đêm kết thúc “Tuần lễ Vàng”, gia đình ông Trịnh Văn Bô bỏ tiền mua đấu giá bức ảnh Bác Hồ với giá 10 vạn đồng (sau này tặng lại UBND thành phố Hà Nội). Tổng cộng từ khi được giác ngộ, gia đình ông bà đã ủng hộ cách mạng 5.147 lạng vàng, tương đương 2,588 triệu đồng Đông Dương. Gia đình ông Trịnh Văn Bô là tấm gương tiêu biểu cho giới công thương Thủ đô và cả nước ủng hộ chính quyền Nhân dân, ủng hộ nền tài chính cách mạng non trẻ vô điều kiện. Gần như toàn bộ số tiền mà ông bà thu được từ việc kinh doanh vải đều ủng hộ cách mạng. Người Pháp đã ví ông bà là Bộ trưởng Tài chính của Việt Minh(4).

Trong ngày khai mạc “Tuần lễ Vàng”, nhà tư sản yêu nước Đỗ Đình Thiện - người “phụ trách Quỹ Trung ương ở Hà Nội”, đã làm gương, ủng hộ “Quỹ Độc lập” 10 vạn đồng (trị giá 4 kg vàng) và ủng hộ “Tuần lễ Vàng” 100 lạng vàng; ngày 23/9/1945, ông bà Đỗ Đình Thiện còn bỏ ra 1 triệu đồng mua bức tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (ủng hộ quỹ), sau đó tặng lại thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Hữu Nhâm, chủ hiệu vải Tam Kỳ - số 48 Hàng Đào ủng hộ 300 lạng vàng; doanh nhân Vương Thị Lai, buôn bán tơ lụa đã ủng hộ quỹ 109 lạng vàng; các nhà tư sản lớn như Ngô Tử Hạ, Tống Minh Phương cũng tích cực tham gia đóng góp. Riêng đêm cuối cùng của “Tuần lễ Vàng”, trong cuộc đấu giá ở Hà Nội thu được 1,58 triệu đồng Đông Dương… Vì vậy, chỉ một tuần, Nhân dân Hà Nội đã góp được 2.201 lạng vàng, 92 tấn thóc, nhiều tiền bạc; ngoài ra, Nhân dân và Hội phụ nữ Hà Nội còn tổ chức “Ngày len, vải, sợi”, quyên góp được 5.842m vải, 149 kg len, hàng nghìn bộ quần áo và giầy, dép, bít tất, mũ ủng hộ bộ đội… tổng trị giá lên tới 7 triệu đồng Đông Dương(5)
 
Trên địa bàn Chiến khu 2 và 3 (Quân khu 3 ngày nay), Nhân dân đã quyên góp được trên 2.000 lạng vàng. Trong đó, Nhân dân Nam Định quyên được 30 lạng vàng, 165 lạng bạc và 50 vạn đồng. Ninh Bình quyên được 105 lạng vàng. Thái Bình quyên được 370 lạng vàng. Hải Phòng quyên được 1.500 lạng vàng, hàng triệu đồng, ngoài ra còn mua được số vũ khí của quân Tưởng trị giá 2 triệu đồng; riêng gia đình nhà tư sản yêu nước Nguyễn Sơn Hà đóng góp cho quỹ toàn bộ số nữ trang (gồm vàng bạc, đá quý) nặng 10,5kg, trong đó có 105 lạng vàng. Ông Hàn Thảo ở Mỹ Hào, Hưng Yên đem cả vật gia bảo của gia đình là chiếc chén ngọc do vua ban thưởng ủng hộ “Quỹ Độc lập”. Nhân dân Hải Dương quyên góp được 330.000 đồng, 216 lạng vàng, 341 lạng bạc, 5 tấn đồng(6)... 
 
Nhân dân các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên ủng hộ quỹ 300 con trâu, 1.000m vải tự dệt... Vua Mèo Vương Chí Xình (Đồng Văn, Hà Giang) đã ủng hộ 9kg vàng và 2,2 triệu đồng bạc trắng.
 
Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ngoài tiền mặt, đã góp vào “Quỹ Độc lập” được 8kg vàng, 53kg bạc, một số kim cương. Thị xã Vinh và 5 huyện đồng bằng Nghệ An góp được 25,62kg vàng, 161.116kg đồng; riêng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Quỳ Châu đóng góp 150kg bạc. 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế quyên góp được 370kg bạc. Nhiều gia đình tự nguyện quyên góp bộ “Tam sự”, “Ngũ sự” bằng đồng; nhiều phụ nữ hiến tặng cả đôi hoa tai vàng vật kỷ niệm ngày cưới của mình cho cách mạng. Gia đình bà Đức ở thôn Kẻ Hộ, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã đóng góp 4 đôi trâm vàng, 1 con trâu, 40 bát đĩa quý(7)
 
Tại Huế, Nam Phương Hoàng Hậu - vợ vua Bảo Đại (cố vấn Vĩnh Thụy) ủng hộ hàng chục chiếc nhẫn, hoa tai, vòng vàng quý, nêu gương cho Nhân dân Huế ủng hộ 420 lạng vàng. Bà Thềm - Công chúa Chăm (Ninh Thuận) ủng hộ 1 chiếc mũ, 1 quả na, 1 quả khế, 1 nải chuối, tất cả đều bằng vàng và cả chiếc mục vàng của dòng họ vua Chăm. Nhân dân Bến Tre đã quyên góp được hơn 100 lạng vàng. Tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên quyên góp được 2,323kg vàng và 16,95kg bạc... 
 
Chỉ thời gian ngắn, Nhân dân cả nước đã ủng hộ “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ Vàng” 20 triệu đồng, 370 kg vàng(8). Theo thời giá khi đó (gần 400 đồng/1 lạng vàng) thì 20 triệu đồng Đông Dương tương đương 50.000 lạng vàng. Tổng cộng quy ra vàng đã thu được 59.618 lạng, tương đương trên 2.072,3 tỉ VNĐ hiện nay. Trong điều kiện ngân khố quốc gia Nhà nước cách mạng non trẻ gần như trống rỗng thì số tiền, vàng, bạc, vật báu... này có giá trị rất lớn, đã giúp Chính phủ giải quyết một số khó khăn trước mắt, trước hết là mua sắm vũ khí và nuôi dưỡng bộ đội.
 
Kết quả trên, không chỉ có ý nghĩa to lớn về tài chính trong lúc vận nước như “ngàn cân treo sợi tóc” mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Mỗi lạng vàng, từng đồng tiền, vật báu, hiện vật... ủng hộ cách mạng khi đó là biểu hiện sâu sắc tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc và trách nhiệm công dân trong củng cố, giữ vững nền độc lập và các thành quả cách mạng vừa giành được. Đồng thời, kết quả đó góp phần nâng cao vị thế của Nhà nước cách mạng non trẻ trước Nhân dân và bạn bè quốc tế. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tuần lễ Vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết: Trong khi các chiến sĩ quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do, độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút vàng để phụng sự Tổ quốc”(9)
 
 “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong” là bài học lịch sử trong “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ Vàng” từ mùa thu năm 1945. Đó sẽ mãi là bài học quý báu cho hôm nay và mai sau; cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong xây dựng nền kinh tế quân đội và đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, 8. Lịch sử hậu cần QĐND Việt Nam, Tập 1, Nxb QĐND 1995, trang 62, 39. 
2, 3, 6. Lịch sử hậu cần Quân khu 3, tập 1, Nxb QĐND 2004, các trang 28, 36-37, 54. 
4. VnExpress ngày 2/9/2010. 
5. Báo Hà Nội mới (điện tử) ngày 2/9/2015.
7. Lịch sử hậu cần Quân khu 4 (1945-2005). Nxb QĐND, trang 28.
9. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB Sự thật, Tập 4, trang 17. 

THƯỢNG TÁ, TS. LÊ THÀNH CÔNG - CỤC KINH TẾ/BỘ QUỐC PHÒNG