Công nghiệp quốc phòng Việt Nam với việc phát triển vũ khí công nghệ cao

04/12/2021, 12:13

Việc ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào xây dựng và phát triển nền công nghiệp quốc phòng, trong đó có phát triển vũ khí công nghệ cao, sẽ mang lại cho nước ta nhiều cơ hội, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tàu tên lửa tấn công nhanh do Tổng công ty Ba Son đóng. Ảnh: CTV

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là quân sự, quốc phòng. Nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) quân sự mới có hàm lượng khoa học - công nghệ (KHCN) cao, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kỹ, chiến thuật, được gọi là vũ khí công nghệ cao, đã ra đời. Theo thống kê, kể từ cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao lần đầu tiên (chiến tranh vùng Vịnh năm 1991); tiếp đến chiến dịch “Con cáo sa mạc” ở I-rắc (12/1998), tỷ lệ sử dụng vũ khí công nghệ cao chiếm 50%; chiến tranh Nam Tư (năm 1999) là 75-80%, thì đến chiến tranh Ápganixtan (năm 2001), vũ khí công nghệ cao đã được Mỹ và đồng minh sử dụng tới 90% và trong chiến tranh I-rắc (năm 2003) là trên 90%.
 
Sự ra đời, phát triển và được sử dụng phổ biến trong một số cuộc chiến tranh gần đây cho thấy, vũ khí công nghệ cao đã có tác động sâu sắc đến những vấn đề lý luận và thực tiễn quân sự, quốc phòng, trong đó có các tổ hợp công nghiệp quốc phòng (CNQP). Các nhà khoa học quân sự trên thế giới đã chỉ ra rằng, vũ khí công nghệ cao ra đời và được trang bị với số lượng lớn đã dẫn đến những biến đổi lớn về tổ chức quân đội, phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Ngày nay, với sự phát triển của vũ khí công nghệ cao, việc tiến công bằng hỏa lực hoàn toàn có thể thực hiện từ xa, không cần sử dụng tới bộ binh mà vẫn đạt được mục đích của cuộc chiến. Một khái niệm chiến tranh mới ra đời, đó là “chiến tranh công nghệ cao”, “chiến tranh phi tiếp xúc”. Vũ khí công nghệ cao với tính ưu việt của nó đã cho phép đối tượng sử dụng mở rộng không giới hạn không gian tác chiến, cả trên bộ, trên biển, trên không và trong vũ trụ, trong điện từ trường. Do vậy, sự phân biệt tiền tuyến và hậu phương chỉ còn là tương đối, ranh giới ngày càng mờ nhạt.
 
“Phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước”.
 (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng)
 
Từ đặc điểm và những tác động chủ yếu của vũ khí công nghệ cao đến quân sự, quốc phòng; để ngăn ngừa các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, chúng ta cần quan tâm đến rất nhiều vấn đề. Trong đó, phải coi trọng đầu tư nghiên cứu chế tạo vũ khí công nghệ cao, phát triển KHCN quân sự; xây dựng và phát triển CNQP ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
 
Có thể khẳng định, trong bối cảnh mới, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò và tác động của vũ khí công nghệ cao đến xây dựng, phát triển CNQP Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước”1. Cùng với đó, phải chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. “Xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, có trình độ KHCN cao, có khả năng sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, công nghệ cao. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống... Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”2. Tiếp tục nghiên cứu, sản xuất được một số chủng loại vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại cần thiết cho phòng thủ, bảo vệ đất nước trong tình hình mới.
 
Ngành CNQP có sứ mệnh hết sức quan trọng và là lực lượng nòng cốt thực hiện quá trình hiện đại hóa VKTBKT mới của Quân đội. Bởi vậy, “cần ứng dụng các thành tựu KHCN tiên tiến, hiện đại, nâng cao năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ có tính năng kỹ thuật cao”3. Trước sự phát triển nhanh của KHCN, với sự ra đời của các thế hệ vũ khí công nghệ cao, ngành CNQP phải vươn lên, làm chủ khoa học và công nghệ mới để thiết kế, chế tạo, sản xuất các loại VKTBKT hiện đại phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:
 
Một là, tập trung đầu tư và có chiến lược phát triển KHCN phù hợp xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển CNQP, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là giải pháp quan trọng, vừa là định hướng nhằm tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán chủ trương đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế, chính sách phát triển KHCN; coi KHCN là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để góp phần phát triển nền CNQP tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng.
 
“Cần ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại, nâng cao năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ có tính năng kỹ thuật cao”.
     (Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc)
 
Hai là, coi trọng hơn nữa việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho xây dựng, phát triển CNQP. Đây là giải pháp then chốt, lâu dài nhằm bảo đảm tốt cho công tác quản lý điều hành và sử dụng cán bộ có chuyên môn cao trong các lĩnh vực chế tạo, sản xuất trọng yếu. Trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài để phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, cần huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để xây dựng, phát triển CNQP.
 
Ba là, tăng cường đầu tư phát triển KHCN theo cơ chế thị trường, trên cơ sở huy động các nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Các ngành, các cấp có trách nhiệm trong việc thúc đẩy phát triển KHCN; đồng thời hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ KHCN tiên tiến. Trọng tâm là đổi mới cơ chế hoạt động và tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu, quản lý KHCN, đổi mới sáng tạo. Lấy việc nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động KHCN. Tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường; nâng cao năng lực, hiệu quả, tính tự chủ của các cơ sở nghiên cứu KHCN công lập. Bên cạnh đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Tăng cường liên kết doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học; nâng cao năng lực của doanh nghiệp về tiếp thu, làm chủ và từng bước tham gia tạo ra công nghệ mới.
 
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển CNQP và sản xuất, tiêu thụ sản phẩm quốc phòng. Trong đó, cần thực hiện tốt việc “Đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ, đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học - công nghệ tiên tiến”4. Đây là giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng, phát triển CNQP thời kỳ mới.
 
Có thể nói, sự phát triển của vũ khí công nghệ cao trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền CNQP Việt Nam tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng. Việc từng bước làm chủ công nghệ chế tạo, sản xuất các loại vũ khí thế hệ mới, công nghệ cao sẽ góp phần vào quá trình hiện đại hóa Quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo đảm VKTBKT cho lực lượng vũ trang; đồng thời thúc đẩy công nghiệp quốc gia phát triển nhanh, bền vững.

ĐẠI TÁ, PGS, TS KHQS. TRẦN NAM CHUÂN