Doanh nghiệp Nhật đánh giá cao môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

15/02/2020, 09:45

Ngày 14/2, Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) đã công bố kết quả khảo sát thực trạng hoạt động của doanh nghiệp (DN) Nhật tại châu Á - Thái Bình Dương.

Trong vòng 1, 2 năm tới hoặc dài hạn hơn, tỷ lệ DN Nhật có xu hướng mở rộng kinh doanh là 63,9%.

Phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn ông Takeo Nakajima - Trưởng đại diện Jetro Hà Nội, về đánh giá của DN Nhật đối với tình hình kinh doanh tại Việt Nam.
 
* PV: Xin ông cho biết hiện tại có khoảng bao nhiêu DN Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam? Ông có nhận xét gì về con số này?
 
- Ông Takeo Nakajima: Hiện nay, số lượng hội viên của Hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam là 1.943 DN. Trên thực tế, số lượng DN Nhật hoạt động tại Việt Nam lớn hơn (khoảng gần 3.000 DN), vì có nhiều DN không tham gia vào hiệp hội. Nếu nhìn vào con số hội viên của Hiệp hội DN Nhật tại Việt Nam thì hàng năm đều tăng thêm trên 100 DN. Điều này cho thấy việc đầu tư của các DN Nhật tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng hàng năm. 
 
Có thể nói, phần lớn các DN Nhật đều đánh giá cao về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Điều này thể hiện rõ qua việc tăng điểm của các hạng mục “quy mô và tính tăng trưởng của thị trường”, “tình hình chính trị xã hội ổn định” và “môi trường sống lý tưởng cho người nước ngoài”. Khảo sát cũng cho thấy, khi đầu tư vào Việt Nam, càng đầu tư lâu thì tỷ lệ DN có lãi càng cao, với tỷ lệ DN có lãi đạt 65,8% DN tham gia khảo sát, tăng 0,5 điểm phần trăm. Điều đó cho thấy các DN Nhật đánh giá rất cao về môi trường đầu tư tại Việt Nam.  
 
* PV: Xin ông cho biết, tỷ lệ các DN Nhật được khảo sát có kế hoạch tiếp tục kinh doanh hay mở rộng hoạt động tại Việt Nam trong thời gian tới?
 
- Ông Takeo Nakajima: Trong vòng 1, 2 năm tới hoặc dài hạn hơn, tỷ lệ DN Nhật có xu hướng mở rộng kinh doanh là 63,9%. Con số này tuy có giảm hơn 1 chút so với kỳ khảo sát năm trước, nhưng so sánh với các nước ASEAN thì đây là tỷ lệ cao nhất. Đặc trưng của con số này là với những DN mới thành lập hoặc thành lập chưa lâu thì mong muốn tiếp tục mở rộng kinh doanh rất lớn, còn các DN thành lập trên 10 năm thì tỷ lệ này cũng là trên 50%. Lý do mở rộng kinh doanh tại Việt Nam là do kỳ vọng lớn về việc “gia tăng doanh thu”. Điều này cho thấy thị trường Việt Nam đang có rất nhiều triển vọng hoạt động kinh doanh về cả thị trường nội địa cũng như thị trường xuất khẩu. Điều này tạo ra những tác động tốt cho mong muốn được tiếp tục kinh doanh và mở rộng kinh doanh của DN Nhật tại Việt Nam.
 
* PV: Cuộc thương chiến Mỹ - Trung có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động kinh doanh của các DN Nhật tại Việt Nam, thưa ông?
 
- Ông Takeo Nakajima: Theo khảo sát của Jetro, phần lớn các DN Nhật tại các nước châu Á đều cho rằng chịu tác động tiêu cực của thương chiến Mỹ - Trung, do thuế tăng lên. Đối với các DN Nhật tại Việt Nam thì tác động đến từ cả 2 phía tích cực và tiêu cực. Ví dụ như việc các đơn hàng trước đây đươc đặt cho các DN Trung Quốc thì chuyển sang đặt hàng cho các DN tại Việt Nam. Đồng thời, nhiều DN nước ngoài đầu tư vào Việt Nam do sự chuyển dịch đầu tư sẽ tạo ra sự năng động hơn cho thị trường Việt Nam, tạo sự tích cực hơn cho các giao dịch thương mại. Trong những DN trả lời có tác động tích cực thì 57% DN nói rằng, doanh thu trong nước của họ sẽ gia tăng bởi sẽ có nhiều đối tác khi có nhiều DN nước ngoài đầu tư hoặc chuyển dịch vào Việt Nam. 
 
Trong khi đó, đánh giá về các tác động tiêu cực như chi phí mua nguyên phụ liệu thì khoảng 40% DN cho rằng sẽ có sự gia tăng, do tác động của thương chiến hoặc sự suy giảm các nhà cung cấp. Như vậy, các nhà cung ứng sẽ đưa ra những điều kiện khắt khe hơn dẫn đến việc tăng chi phí mua nguyên liệu và linh phụ kiện. Có 35% DN nói rằng thương chiến Mỹ - Trung sẽ làm giảm doanh thu trong nước.
 
* PV: Vậy theo ông, điều gì sẽ giúp Việt Nam giữ chân được các nhà đầu tư Nhật trong dài hạn?
 
- Ông Takeo Nakajima: Khó khăn hiện nay với các DN Nhật khi đầu tư kinh doanh tại Việt Nam là vấn đề tuyển dụng nhân lực. Ví dụ DN cần tuyển dụng 1.000 lao động nhưng họ chỉ tuyển được 500 người. Phần 500 người thiếu hụt để đảm bảo công suất thì họ có thể phải đi ra nước ngoài mở 1 cơ sở sản xuất khác để bù được phần sản xuất của 500 lao động này. Vì vậy, giải quyết được bài toán về nguồn nhân lực là một trong các yếu tố quan trọng để cân nhắc việc có nên tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hay không. Tôi nghĩ rằng, Chính phủ cần có những chính sách để đảm bảo nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực vì khi có được sự đảm bảo về nguồn nhân lực, về chất lượng lao động thì sẽ giữ chân được các DN Nhật.
 
Khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực, sẽ có nhiều DN châu Âu đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam, tạo ra các sản phẩm đòi hỏi chất lượng theo chuẩn mực của châu Âu; đi kèm với đó là nguồn nhân lực có trình độ để đáp ứng được các nhu cầu này. Vì vậy, EVFTA sẽ tạo ra nhiều kỳ vọng cho chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam.
 
* PV: Xin cảm ơn ông!


“Về dịch Covid-19, chúng tôi nhận thấy rằng, Chính phủ đã đưa ra các biện pháp rất nhanh chóng, toàn diện, kịp thời được triển khai trên toàn quốc. Đứng ở góc độ các DN Nhật, chúng tôi cảm thấy rất yên tâm với giải pháp hiện tại của Chính phủ. Chúng tôi mong muốn rằng, Chính phủ Việt Nam và Nhật sẽ có trao đổi thông tin với nhau trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế để những giải pháp đưa ra không quá mức cần thiết, để tránh sự cản trở sự dịch chuyển của con người cũng như hàng hóa để gây tác động trực tiếp tới các DN” - ông Takeo Nakajima nói.


LUYỆN VŨ (THỰC HIỆN)/Theo TBTCVN