Mường Lát - Mùa mận chín

13/07/2020, 15:22

Khi những tia nắng sớm ban mai vàng nhẹ như muôn vàn sợi tơ giăng kín khắp bản làng, gọi muôn cây trên núi rừng Mường Lát thức giấc, khoe sắc quyến rũ cũng là lúc cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế - Quốc phòng (KTQP) 5/Quân khu 4 cùng đồng bào nhân dân các dân tộc trên vùng biên giới bắt đầu đi làm, đón một vụ mùa bội thu… Những điệu múa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; những lời ca tiếng hát cất lên trên những bản làng nông thôn mới nơi thượng nguồn sông Mã càng làm cho không khí được mùa thêm rộn ràng, vui tươi…

Niềm vui được mùa trên Vùng dự án của Khu KTQP Mường Lát

Chiếc xe khách xuyên qua lớp sương mù dày đặc, đưa tôi từ thành phố Thanh Hóa, ngược gần 240 km, vượt “cổng trời” lên miền Tây xứ Thanh, thuộc Mường Lát, đến với cán bộ, chiến sĩ, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn KTQP 5. Trôi qua bên cửa xe là những mái nhà sàn nằm san sát nhau lọt thỏm giữa bạt ngàn màu sắc thanh tao của hoa mơ, hoa đào, màu xanh mơn mởn của chồi non, lộc biếc. Thấy tôi chỉnh tề trong bộ quân phục, đang liên tục “lia” ống kính máy ảnh trước vẻ đẹp hùng vĩ nơi thượng nguồn sông Mã, cậu “lơ” xe tên Dũng liền vui vẻ bắt chuyện, rồi biết tôi là phóng viên Báo Quân khu 4, Dũng tỏ ra thích thú: “Thế thì trước đây anh em mình là láng giềng đấy”. Chuyện là năm 2007, Dũng nhập ngũ vào Tiểu đoàn Vệ binh Quân khu 4, chỉ cách nhà làm việc cơ quan Báo Quân khu 4 “giậu mồng tơi”. Sau khi xuất ngũ, Dũng làm nhân viên tuyến xe thành phố Thanh Hóa đi Mường Lát. Thấy tôi ngạc nhiên trước nhịp sống được mùa của đồng bào, như hướng dẫn viên du lịch, Dũng giới thiệu: “Trước đây, trong canh tác, bà con chỉ biết “chọc lỗ, tra hạt, chờ thu hoạch” nên mỗi năm chỉ một vụ, hiệu quả rất thấp. Đến những năm gần đây, bà con đã biết ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác nên mỗi năm thu hoạch 2-3 vụ lúa. Vụ ĐôngXuân này dự báo lại bội thu nên bắt đầu từ cuối tháng Ba, đồng bào H’Mông đã rộn ràng chuẩn bị mừng lúa mới. Các bà, các mẹ thì chuẩn bị nong nia, sàng, bồ đựng thóc; các chàng trai vạm vỡ chuẩn bị xe, máy gặt, máy tuốt lúa cùng chum rượu ngô thơm lừng góc nhà. Tại các phiên chợ vùng cao như Nhi Sơn, Mường Chanh… các cô gái H’Mông váy áo xúng xính, điệu đà, đầu đội mũ họa tiết sặc sỡ chuẩn bị các nông sản xuống chợ…” Khi biết tôi lên Đoàn 5 công tác, Dũng càng phấn khích: “Anh thấy đấy, đời sống vật chất có đủ đầy thì đồng bào mới có điều kiện nâng cao đời sống tinh thần. Mà nói đến cuộc sống khấm khá của đồng bào các dân tộc nơi đây, không thể không nhắc đến bộ đội Đoàn KTQP 5. Ai chứ bác Soái (Đại tá Lê Thế Soái, nguyên Đoàn trưởng Đoàn KTQP 5, nay là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 341), bác Sơn (Đại tá Hoàng Văn Sơn, Chính ủy Đoàn), bác Tấn (Thượng tá Nguyễn Đình Tấn, Phó Chính ủy Đoàn) trước đây về xe em suốt. Gần chục năm làm “lơ” con xe này, em nghe không biết bao nhiêu câu chuyện nghĩa tình của bà con về cán bộ Đoàn 5, cán bộ của dân”.

Cán bộ Đoàn KTQP 5 hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi bò cho nhân dân Vùng dự án.
Khi mới nghe chúng tôi nhắc đến tên bộ đội Đoàn KTQP 5, ông Lý Seo Phừ, ở bản Pom Khuông, xã Tam Chung ồ lên xen vào câu chuyện của chúng tôi: “Người dân bản tôi không ai gọi là cán bộ đâu, họ là Bộ đội Cụ Hồ, là những người con của bản đấy, là người thân của bản mà, những người tình nguyện vì cuộc sống bà con, có bộ đội, bà con chúng tôi giờ đỡ khổ hơn nhiều rồi”. Khi chiếc xe chầm chậm lăn bánh rồi khựng lại, doanh trại Đoàn KTQP 5 đã hiện ra trước mắt tôi. Tạm biệt những người bạn vui tính mới quen, tôi bước vào khuôn viên doanh trại bung nở rực rỡ hoa hồng, cúc, tỏa ngát hương thơm vấn vít đất trời. Đem những điều mắt thấy, tai nghe trên chuyến xe khách trò chuyện với các anh chỉ huy Đoàn KTQP 5, Đại tá Hoàng Văn Sơn, Chính ủy Đoàn hồ hởi chia sẻ: “Thấm thoắt đến nay đã hơn 17 năm Đoàn KTQP 5 về đứng chân, gian nan gắn bó với đồng bào vùng biên Mường Lát. Nói là thấm thoắt bởi dù cuộc sống đồng bào có nhiều đổi thay nhưng Mường Lát vẫn là huyện nghèo của cả nước. Còn gian nan là bởi 17 năm “ba bám, bốn cùng” với bà con cũng là chừng ấy năm cán bộ, chiến sĩ của Đoàn luôn trăn trở tìm hướng đi mới cho đồng bào mình bớt nghèo, bớt khổ. Để rồi theo năm tháng, mỗi công trình đường giao thông, hệ thống nước sạch, kênh mương, đập thủy lợi, điện chiếu sáng, mô hình chăn nuôi, trồng trọt, mỗi việc làm của cán bộ, nhân viên nơi vùng biên đầy gian khó này luôn đồng hành cùng các bản làng vùng cao, làm cho đời sống nhân dân ngày càng khởi sắc khi cái đói, cái nghèo dần được đẩy lùi, chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững…”.

Cán bộ Đoàn KTQP 5 hướng dẫn gia đình anh Lò Văn Ún chăm sóc đàn trâu.

Tâm sự với chúng tôi, Thượng tá Nguyễn Đình Tấn, Phó Chính ủy Đoàn, không giấu được niềm vui, nói: “Trong niềm vui của bà con, cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị thêm phấn khởi, tự hào bởi năm 2019, Đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên các mặt công tác, một trong những đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của LLVT Quân khu, được Bộ Tư lệnh Quân khu tặng Cờ đơn vị xuất sắc trong Phong trào Thi đua quyết thắng giai đoạn 2014 - 2019. Tuy nhiên, điều chúng tôi phấn khởi nhất đó là cán bộ, chiến sĩ, trí thức trẻ tình nguyện đơn vị đã làm tốt công tác tuyên truyền “nói cho dân hiểu”, đồng thời đẩy mạnh “làm cho dân tin” bằng cách vận động nhân dân xóa bỏ phương thức canh tác cũ, lạc hậu, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, chủ động “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc) trong bám dân, bám bản, giúp đỡ đồng bào bằng những việc làm cụ thể, mô hình thiết thực nhất. Nhờ đó, “lời nói hay, việc làm tốt” của bộ đội càng làm cho đồng bào thêm tin tưởng và làm theo”.

Bộ đội Đoàn KTQP 5 cùng lực lượng trí thức trẻ tình nguyện vận chuyển cây giống do đơn vị hỗ trợ cho bà con.
Minh chứng cho những điều mình nói, Thượng tá Nguyễn Đình Tấn và Thiếu tá Mai Văn Diễn, Trợ lý Tuyên huấn Đoàn dẫn tôi đi thăm các bản nơi rẻo cao xa xôi trên núi rừng biên cương để “mục sở thị” cuộc sống đang từng ngày khởi sắc của đồng bào. Hai chiếc xe máy luôn thường trực “số 1”, oằn mình chở chúng tôi xuyên qua những con dốc ngầu bụi đỏ vừa san ủi để chuẩn bị làm đường, từng khúc cua tay áo đến chóng mặt để tới thăm gia đình anh Lò Văn Ún, sinh năm 1982, người dân tộc Thái, Trưởng bản Piềng Tặt, xã Mường Chanh. Gia đình anh Ún có 4 người, mẹ già yếu còn anh trai và chị gái bị khiếm khuyết về trí tuệ, cả 4 miệng ăn trông chờ vào anh nên cuộc sống đặc biệt khó khăn. Gặp chúng tôi giữa vườn rừng xanh tốt, chuồng, trại chăn nuôi kiên cố, anh Ún khoe: “Mấy năm trước, mình còn phải nhận hỗ trợ gạo hộ nghèo. Năm 2014, được các anh ở Đoàn vào giúp đỡ khai hoang đất ven suối, chỉ cho cách trồng lúa nước, hỗ trợ 2 con bò sinh sản và tư vẫn kỹ thuật làm chuồng trại. Thời gian như gió thổi nơi đầu núi, sau 3 năm mình có 10 con bò, 4 con trâu, 200 con gà, vịt, gần 20 héc ta xoan, 2 héc ta ao nuôi cá, thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm. Giờ thì thoát được cái nghèo rồi”. Nhanh tay đổ những bì cỏ voi tự tay mình trồng cho đàn cá trắm, trôi, chép đang quyện đuôi nhau tìm mồi, anh bấm ngón tay nhẩm tính: “Đàn cá này mình thả từ giữa năm ngoái, bây giờ ước chừng được khoảng 6 tạ, giá 55.000 đồng/kg, “sơ sơ” cũng bằng ba con bò rồi đấy”. Góp chuyện, Thượng tá Nguyễn Đình Tấn nói vui: “Đang dịp chợ phiên, anh Ún mà kéo cá thì đắt hàng phải biết!”. “Phải rồi, đồng bào có cá sạch để ăn, mình lại có tiền để cưới vợ, lỡ “nghiện” cách làm giàu bộ đội bày nên quên cả lấy vợ rồi!” - Anh Ún vừa dứt lời, tiếng cười vui vẻ giữa núi rừng trở nên ấm áp lạ thường. Rời nhà anh Ún, chúng tôi đến bản Đoàn Kết, bản giáp biên, cái tên gắn liền với đồng bào Khơ Mú. Địa bàn khó khăn ở vùng biên Mường Lát thì nhiều nhưng heo hút đến mức sóng điện thoại không “với” tới chắc chỉ có nơi đây. Mùa hè nhưng ở đây khi chiều về lại khá lạnh, quanh năm sương phủ. Trong ngôi nhà của ông Lò Văn Phòng, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng bản hôm nay lại nhộn nhịp người vào ra dự họp bản chuẩn bị thu hoạch mùa. Ông kể với tôi khoảng thời gian 5 năm về trước, đường vào bản là nỗi ám ảnh với bà con nơi đây. Nhưng đã xa rồi những lần bà con xuống chợ phải lội sông, lội suối, vượt qua cầu phao; khi lũ về thì chiếc cầu trở nên vô dụng, dân bản bị cô lập, bơ vơ trên núi cao… Giọng ông hào sảng: “Cái cầu “chi chít” dây treo ngoài kia là bộ đội làm cho dân bản đó, rồi con đường bê tông dài 3,6km từ cầu vào bản, con đường từ bản Buốn vào bản Đoàn kết vừa hoàn thành này nữa cũng do Đoàn 5 làm. Trước đây muốn đi ra trung tâm xã phải đi qua con đường độc đạo từ trên đỉnh Pha Lát xuống mất cả ngày đường, bây giờ có thêm đường, đi chợ bán con gà, con vịt hay đi ra xã mua cái ti vi, xe máy cũng dễ, lại có điện và nước sạch để sử dụng nữa. Tất cả là nhờ bộ đội Đoàn 5 cả đấy...” Khi ánh nắng đã theo mặt trời xuống núi, sương từ từ dâng lên ôm trùm lấy các bản làng vùng biên cũng là lúc chúng tôi tạm biệt cán bộ, chiến sĩ Đoàn KTQP 5 cùng đồng bào các dân tộc vùng cao Mường Lát để về xuôi. Trong tôi cảm nhận được niềm vui rạng ngời trên từng ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào nơi đây. Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng những đổi thay nơi các bản làng đã tạo nên một diện mạo mới, sức sống mới nơi miền biên viễn xa xôi. Tôi thầm hẹn một ngày không xa sẽ trở lại.
 

GHI CHÉP CỦA MẠNH HÙNG