Những bước chuyển về công tác kỹ thuật của Bộ đội Biên phòng

30/11/2021, 11:35

Thực hiện Nghị quyết số 382-NQ/ĐUQSTW ngày 29-11-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã ban hành Nghị quyết số 98-NQ/ĐU về nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật của Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới; Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng ban hành chương trình hành động về việc thực hiện Nghị quyết số 98-NQ/ĐU giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020.

Lãnh đạo Bộ đội Biên phòng kiểm tra công tác sửa chữa tàu, thuyền tại Công ty TNHH MTV Đóng tàu Sơn Hải (Cục Kỹ thuật, Bộ đội Biên phòng). Ảnh: VĂN HẠNH

Ngay khi nghị quyết ra đời, Đảng ủy, bộ tư lệnh, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kỹ thuật. Sau 10 năm triển khai nghị quyết, công tác kỹ thuật trong lực lượng Bộ đội Biên phòng đã có những bước chuyển biến rõ rệt, nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp về công tác kỹ thuật được nâng lên, vai trò trách nhiệm của cơ quan, đơn vị kỹ thuật được phát huy và đi vào nền nếp, chế độ công tác kỹ thuật được duy trì thường xuyên, công tác quản lý, bảo quản, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật được nâng cao, hệ số kỹ thuật, hệ số đồng bộ và tuổi thọ của vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện được duy trì thường xuyên, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
 
Từ năm 2011 đến nay, Bộ đội Biên phòng đã tham mưu đề xuất Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành 6 thông tư về công tác kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng (TCVN/QS) và nhiều quy chế quản lý, bộ định mức chi phí, quy định đăng ký, sử dụng, bảo quản, sửa chữa... liên quan đến công tác kỹ thuật. Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng trực tiếp ban hành nhiều văn bản quy định nội bộ, hướng dẫn quy trình về thực hiện công tác kỹ thuật trong Bộ đội Biên phòng; xây dựng các quy định về phân cấp chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật chuyên ngành biên phòng. Đặc biệt, đã tham mưu thực hiện hiệu quả quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể đóng mới tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng; đề xuất cấp trên triển khai dự án đóng mới tàu cao tốc và tàu thuyền các loại cho lực lượng Bộ đội Biên phòng.
 
Để nâng cao chất lượng công tác bảo đảm kỹ thuật, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chỉ đạo ngành kỹ thuật phối hợp với ngành kỹ thuật các quân khu xây dựng kế hoạch thực hiện quy chế phối hợp về bảo đảm vũ khí, công cụ hỗ trợ cho các đơn vị biên phòng trên địa bàn quân khu theo Chỉ thị số 67 của Bộ Tổng Tham mưu; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện tốt các nội dung về quy hoạch, sử dụng và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ. 
 
Trong xây dựng chính quy công tác kỹ thuật, đã chỉ đạo cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện nghiêm chế độ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật theo phân cấp; phát huy hiệu quả hoạt động của trạm, xưởng. Các cơ quan, đơn vị đã thành lập các tổ, đội sửa chữa cơ động, tiến hành kiểm tra kỹ thuật và tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa tại các đồn, hải đội biên phòng, đáp ứng nhu cầu bảo đảm kỹ thuật tại chỗ; duy trì, bảo đảm đồng bộ, niêm cất, tăng hạn sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật. Nhờ đó, đã duy trì thường xuyên hệ số bảo đảm (Kbđ=1), hệ số kỹ thuật (Kt=1) đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật làm nhiệm vụ SSCĐ, huấn luyện, phòng, chống thiên tai, diễn tập và các nhiệm vụ đột xuất khác. 
 
Qua 10 năm triển khai thực hiện nghị quyết, các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật của Bộ đội Biên phòng được quản lý chặt chẽ, bảo đảm về số lượng, chất lượng và tính đồng bộ. Hoạt động huấn luyện kỹ thuật tại các cơ quan, đơn vị đã có những chuyển biến tích cực, sát với thực tiễn nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng. Trình độ chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng và khả năng bảo đảm kỹ thuật, cơ động SSCĐ của các cơ quan, đơn vị được nâng cao.
 
Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã xây dựng, ban hành tiêu chí công tác kỹ thuật ở đồn, hải đội, tiểu đoàn và tương đương; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ huy, điều hành cải cách hành chính, đẩy mạnh Cuộc vận động 50 về “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” tại các cơ quan, đơn vị... 
 
Hiện nay và trong thời gian tới, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã và sẽ tiếp tục được đầu tư, trang bị nhiều loại vũ khí, thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao, chính vì vậy, yêu cầu nhiệm vụ công tác kỹ thuật đặt ra ngày càng cao. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 382-NQ/ĐUQSTW, Nghị quyết số 98-NQ/ĐU và kết luận của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật.
 
Chú trọng giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, chỉ huy và mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ đối với công tác kỹ thuật. Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác tham mưu, đề xuất với cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương các chủ trương, giải pháp chiến lược, đột phá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kỹ thuật và xây dựng lực lượng cán bộ, nhân viên kỹ thuật chính quy, vững mạnh. 
 
Đảng ủy, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị triển khai đồng bộ các giải pháp, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ; phối hợp tốt với các quân khu, bộ CHQS các tỉnh, thành phố về việc thu hồi, cấp đổi vũ khí, khí tài, quân cụ hỗ trợ cho các đơn vị biên phòng trên địa bàn quân khu. Triển khai thực hiện tốt kế hoạch công tác huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ quản lý, khai thác, sử dụng, làm chủ trang bị kỹ thuật thế hệ mới, hiện đại; ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào công tác bảo đảm kỹ thuật.
 
Lãnh đạo tiếp tục thực hiện đề án đóng mới tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng cho các hải đoàn, hải đội và đồn, trạm biên phòng tuyến biển, đảo. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Tổng cục Kỹ thuật, các quân khu đưa vũ khí, xe máy, phương tiện vào sửa chữa tại các nhà máy, các xưởng trên khu vực theo kế hoạch. Lãnh đạo xây dựng đề án quy hoạch tổng thể hệ thống cơ sở kỹ thuật Bộ đội Biên phòng cấp chiến dịch, chiến thuật giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn 2040; kết hợp mọi nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở sửa chữa kỹ thuật, khu kỹ thuật, hệ thống kho quân khí đồn biên phòng, nhà xe, nhà che vũ khí, trang bị kỹ thuật của các đơn vị. 
 
Cùng với đó, chỉ đạo các chuyên ngành kỹ thuật, cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng các quy định về kiểm tra kỹ thuật; áp dụng tiêu chuẩn quân sự và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong việc sửa chữa, đồng bộ, niêm cất tăng hạn vũ khí, trang bị kỹ thuật của Bộ đội Biên phòng; tổ chức triển khai hệ thống đo lường chất lượng từ cấp chiến dịch đến cơ sở và thực hiện tốt chức năng đăng kiểm tàu thuyền, kiểm định trang thiết bị quân sự theo đúng quy định. 
 
Bộ đội Biên phòng tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm quyết định về tổ chức, biên chế; nghiên cứu, đề xuất mô hình tổ chức, biên chế lực lượng kỹ thuật theo hướng chuyên ngành, chuyên sâu, chính quy, hiện đại, chuyên nghiệp; báo cáo quy hoạch đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật trong Bộ đội Biên phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Từng bước chăm lo, bảo đảm tốt các chế độ chính sách đặc thù ngành kỹ thuật cho phù hợp với tình hình thực tế, tính chất nhiệm vụ, địa bàn hoạt động của Bộ đội Biên phòng. 
 
Thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định, kế hoạch phối hợp công tác về công tác kỹ thuật phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu nhiệm vụ. Tổ chức nghiên cứu phương thức bảo đảm kỹ thuật cho các biện pháp, nghiệp vụ biên phòng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ; xây dựng cơ chế bảo đảm kỹ thuật, cơ chế chỉ huy, chỉ đạo, quản lý công tác kỹ thuật ở các ngành, các cấp; đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, gắn với thực hiện có chiều sâu, thiết thực, hiệu quả Cuộc vận động 50, bảo đảm an toàn trong quản lý, khai thác, sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật, xây dựng ngành kỹ thuật Bộ đội Biên phòng vững mạnh, chính quy, góp phần nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật bảo đảm tốt cho nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN ĐỨC MẠNH