Kinh tế quân đội

    Chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Bộ đội lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế, Ngày truyền thống Cục Kinh tế/BQP (23/8/1956 - 23/8/2021) và đón nhận Huân chương Lao động Hạng 3

Vai trò khu Kinh tế quốc phòng với sự phát triển bền vững của đất nước

10/09/2021, 16:33

Trải mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã để lại cho chúng ta hệ thống tri thức phong phú, sâu sắc... Trong đó, có kế sách kết hợp kinh tế (KT) với quốc phòng (QP), làm cho “nước thịnh, binh cường”. Một trong các hình thức của sự kết hợp đó ra đời rất sớm và hiệu quả là Đồn điền binh - tiền đề của Khu kinh tế quốc phòng (KTQP) ngày nay.

Ảnh minh họa,

Sử cũ còn ghi lại: Sau thất bại của Lý Nam Đế trong kháng chiến chống quân Lương, năm 546 Triệu Quang Phục, một tướng tài của Lý Nam Đế đã đem hơn 1 vạn quân còn lại về bãi Màn Trò giữa vùng Đầm Dạ Trạch (thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên hiện nay); binh lính cũng là nông dân, ban ngày khai hoang, cày cuốc làm ăn và luyện tập; ban đêm rẽ thuyền đi đánh các đồn địch. Đây là mô hình sơ khởi của căn cứ - đồn điền binh để vừa làm ăn, vừa đánh giặc và cuối cùng giành được thắng lợi.
 
Sau khi giành được độc lập dân tộc, từ Thế kỷ thứ 10 trở đi, các nhà nước phong kiến Việt Nam đều chú trọng kết hợp KT với QP với kế sách “Ngụ binh ư nông” để binh cũng mạnh mà nông cũng phát triển. Thời Lý - Trần, thời bình trừ cấm quân có quân số nhất định, còn quân địa phương không có quân số nhất định; người nào đến tuổi đều phải đăng lính, hàng tháng thay phiên nhau về làm ruộng để cày cấy tự cấp, mỗi tháng được cấp 10 bó lúa, hàng năm được phát 300 đồng tiền, 1 tấm lụa... “Lúc chinh phạt thì cất quân giao cho các tướng, nếu dùng quân không đủ thì lấy dân binh mà dùng, việc xong lại trở về làm ruộng”. Nhờ đó, bình thường Nhà Lý có khoảng 3.000 quân, khi chống Tống huy động được 10 vạn quân (dân số khi đó khoảng 3-4 triệu). Thời Trần, quân các Lộ (tỉnh) và cấm quân lúc thời bình chưa đầy 10 vạn nhưng trong kháng chiến chống Nguyên - Mông huy động tới 20 vạn quân (dân số khi đó khoảng 5 triệu). Dưới thời Lý - Trần các điền trang, thái ấp của các vương hầu, khanh tướng, các đồn điền binh được thiết lập rộng rãi; là nơi luyện quân, làm ăn tích lũy lương thảo, bảo vệ trị an nên giặc dã không hoành hành. Trần Hưng Đạo - vị tướng tài ba lỗi lạc thời Trần tổng kết: “Việc ăn là việc gốc của dân, là việc tính mệnh của binh” và “trừ lượng đại ước tính hàng năm thì nên lập đồn, tính hàng tháng thì nên vận chở, tính hàng ngày thì nên lưu cấp...”. Với kế sách “sâu rễ, bền gốc” mà QP, KT thời Lý - Trần được củng cố, phát triển; là cơ sở để chiến thắng quân Tống và ba lần toàn thắng quân Nguyên - Mông.
 
Khi dấy binh khởi nghĩa, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã coi: “Binh, lương hai việc trong lúc gây dựng nước nhà vô cùng bức thiết” và thực hiện “Vừa cày ruộng, vừa đánh giặc”, giao cho cha con Ngô Từ và Ngô Kinh xây dựng căn cứ Lam Sơn, thu nạp hiền tài, tổ chức sản xuất, cung cấp binh, lương cho nghĩa quân. Kháng chiến thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Hậu Lê, ông đã lệnh chia lại ruộng đất, khuyến khích khai hoang, khôi phục phát triển nông nghiệp, tu bổ đê điều, đào thêm sông ngòi, phát triển tiểu thủ công nghiệp... Thời Lê Thánh Tông (1481) đã tổ chức ra 43 sở đồn điền, tổ chức như của quân đội gọi là Đồn điền binh; có các cơ sở làm ruộng, chăn nuôi gia súc, nuôi tằm... họ tự cấp và nộp sản phẩm cho triều đình. Những đơn vị quân đội làm nhiệm vụ canh phòng bảo vệ biên cương đều tham gia khai hoang lập đồn điền (quân đồn điền) để tích trữ lương thực đầy đủ. Dưới thời nhà Hậu Lê, “lập đồn điền là chính sách nông nghiệp tích cực, vì nó mở rộng diện tích canh tác, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Những đồn điền sau khi đã khai khẩn thành ruộng đất trồng trọt thì phân phối cho những người khai khẩn cày cấy theo thân phận nông nô hay tá điền lĩnh canh. Nhiệm vụ của các chánh phó sứ đồn điền là trông nom công việc khai khẩn, kinh dinh đồn điền, phân phối ruộng đất và thu tô cho nhà nước”. Đồn điền binh thời Hậu Lê được tổ chức chặt chẽ, gọi là Thực điền binh, là nơi phát triển sản xuất, cung cấp binh, lương tại chỗ và sẵn sàng tham chiến khi đất nước có chiến sự, nhất là đồn điền binh vùng biên giới.
 
Thời nhà Nguyễn, mô hình đồn điền binh tiếp tục được vận dụng, phát triển nhằm khai phá những miền đất mới ở ven biển, Tây Nguyên, nhất là ở Nam Bộ... Lúc bình thường, dân đồn điền là những nông dân, khi Pháp xâm lược nước ta (1858) họ trở thành những chiến binh.
 
Bàn về vai trò của Đồn điền binh, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) viết: “Từ xưa, muốn cho quân lương được đầy đủ, quốc dụng được dồi dào thì không gì bằng đồn điền. Lính tráng đều là người thổ dân, có công việc làm ăn thì không đào ngũ ấy là một. Chỗ nào cũng đóng đồn để cầy bừa, trồng trọt, đội ngũ liên lạc với nhau để bảo đảm các chỗ trọng yếu chẳng phải lo ngại gì ấy là hai. Tính ra trong 4 trấn 2 khương (đơn vị hành chính thời Lê) thì có 2 đội với một số nội trấn thì số lính làm ruộng được là 1.430 người. Nếu mỗi người làm 3 mẫu ruộng, sản lượng 60 bát thóc thì mỗi năm được 5 vạn bát (1 bát = 0,5 lít) thu vào kho nhà nước, lâu ngày tích lũy đầy đủ ấy là ba. Khi đồn quân đã thành lập thì làng, xã dần dần phục hồi, không phải nhọc lòng tập họp và do đó hộ khẩu thêm nhiều ấy là bốn. Đất thang mộc là chỗ gốc, nhờ đó mà từ chỗ khốn khổ biến thành giàu mạnh ấy là năm”.
 
Kế thừa những kế sách quý báu của tổ tiên, Đảng và Nhà nước ta coi kết hợp KT với QP là nhiệm vụ chiến lược cơ bản. Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối "kháng chiến, kiến quốc". Sau năm 1954, miền Bắc có hòa bình, Nhà nước thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, hàng vạn bộ đội chuyển sang các cơ quan, đơn vị KT. Quân số ngoài biên chế các đơn vị chủ lực được tổ chức thành các tiểu đoàn, trung đoàn tham gia xây dựng các tuyến đường giao thông, các khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt Trì... một bộ phận lớn đi xây dựng các nông trường quân đội ở Tây Bắc, miền tây Thanh - Nghệ - Tĩnh, vùng ven biển Ninh Bình, Nam Định...
 
Ngày 23/8/1956, Bộ Quốc phòng thành lập Cục Nông binh (sau đổi thành Cục Nông trường) trực thuộc Tổng cục Hậu cần, với nhiệm vụ quản lý, tổ chức xây dựng các nông trường quân đội. Đầu năm 1957, sau khi xây dựng thắng lợi 4 nông trường An Khánh (Ninh Bình), Xuân Mai, Thanh Hà (Hà Đông) và Nghi Văn (Nghệ An), Bộ Quốc phòng quyết định chuyển hơn 3 vạn quân sang xây dựng 29 nông trường quân đội với kinh phí (ngoài bảo đảm ăn, mặc) trong 3 năm đầu là 80 triệu đồng. Trong đó, Sư đoàn 316 đi xây dựng các nông trường Điện Biên, Nà Sản, Mộc Châu, Tuần Giáo; Sư đoàn 304 xây dựng các nông trường Sông Bôi, Ba Vì; Sư đoàn 330 xây dựng nông trường Lam Sơn... 
 
Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã đến những nơi hoang vu, xa xôi hẻo lánh khai hoang, tạo dựng các nông, lâm trường, hình thành những vùng trù phú; góp phần phát triển KT đất nước, củng cố quốc phòng, an ninh. Khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhiều người lại tái ngũ đi chiến đấu đến ngày toàn thắng (30/4/1975). 
 
Đất nước hòa bình, thống nhất không lâu lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc và Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, trong sự bao vây, cấm vận, khó khăn chồng chất... Thực hiện chủ trương kết hợp KT với QP của Đảng và Nhà nước, một số quân khu phía Nam đã tổ chức các nông trường. Năm 1986, Chính phủ ra Quyết định số 68/CT thành lập Binh đoàn 15 (Tổng Công ty 15 hiện nay) là Đoàn KTQP đầu tiên. Sau nhiều năm xây dựng, phát triển, Binh đoàn 15 đã khẳng định được vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) gắn với củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, năm 1998 Chính phủ có Quyết định số 135/QĐ-TTg và Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) có Nghị quyết số 150 về xây dựng các Khu KTQP; nhằm phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội trong phát triển KT - XH, củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn chiến lược, trọng yếu. Theo đó, cả nước có 19 Khu KTQP, với nhu cầu vốn đầu tư 3.150 tỷ đồng. Thực hiện các Quyết định số 277/QĐ-TTg ngày 31/3/2000, số 43/2002/QĐ-TTg ngày 21/3/2002, số 1391/QĐ-TTg ngày 09/8/2010, số 49/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, phát triển các Khu KTQP đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, Nghị quyết số 520-NQ/QUTW ngày 25/9/2012, Bộ Quốc phòng triển khai xây dựng 33 Khu KTQP (gồm 30 Khu KTQP trên đất liền và ven biển, 03 Khu KTQP trên biển, đảo xa bờ). Kết quả đã triển khai 28 Khu KTQP; chưa triển khai 05 Khu KTQP (03 Khu KTQP trên biển, đảo xa bờ). Tổng nhu cầu vốn đầu tư khoảng 19.666 tỷ đồng; đến hết năm 2020 đã thực hiện được 10.170 tỷ đồng, đạt 55% tổng nhu cầu. Trong đó, ngân sách Nhà nước bảo đảm 4.774 tỷ đồng (còn lại là vốn lồng ghép và vốn khác), gấp 2 lần vốn đầu tư giai đoạn 1999-2009 khi chưa có quy hoạch tổng thể. 
 
Đến năm 2020, các Khu KTQP đã xây dựng mới 1.318 điểm dân cư tập trung, đón nhận 101.345 hộ dân (đạt 101% kế hoạch được phê duyệt). Trong đó đỡ đầu, ổn định tại chỗ giúp dân giúp xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho trên 68.106 hộ dân; đón nhận, sắp xếp được gần 31.528 hộ dân, hoàn thành mục tiêu đón nhận, sắp xếp dân cư trong các Khu KTQP. Nhờ vậy, đã khắc phục được tình trạng dân sống tản mát trong rừng và một số xã “trắng dân” ở các Khu KTQP: Mường Chà/Quân khu 2; Bình Liêu - Quảng Hà - Móng Cái/Quân khu 3; Mẫu Sơn/Quân khu 1 và ổn định tình hình phức tạp do di dân tự do gây ra. Bộ Quốc phòng còn hỗ trợ trên 126,7 tỷ đồng cho hơn 6.000 hộ dân ổn định cuộc sống bền vững. Hệ thống bệnh xá quân dân y của các Đoàn KTQP đã khám cho khoảng 1.700.000 lượt bệnh nhân, tiêm chủng 82.630 lượt người, thu dung điều trị trên 200 nghìn người, cấp cứu trên 12 nghìn người, phẫu thuật trên 15 nghìn trường hợp. Quân y các Đoàn KTQP đã đào tạo được 350 nhân viên y tế thôn, bản, mở 65 lớp tập huấn nhân viên y tế thôn, bản với trên 2.000 học viên. Hỗ trợ trang bị y tế, tiền thuốc, tiền ăn cho đồng bào, trị giá hơn 1.343 tỷ đồng...
 

Cán bộ Lâm trường 155, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 327 (Quân khu 3) hướng dẫn người dân bản Phạt Chỉ, xã Đồng Văn (Bình Liêu, Quảng Ninh) chăm sóc và thu hoạch rau xanh. Ảnh: Hằng Thu.
 
Các Đoàn KTQP đã làm tốt công tác dân vận, tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương; ăn ở vệ sinh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, kế hoạch hóa gia đình, áp dụng khoa học kỹ thuật, loại bỏ hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội, không tham gia các hoạt động xấu, không theo tà đạo, không di cư tự do... Các Đoàn KTQP còn giúp các địa phương phát triển đảng viên, xóa được 344 bản “trắng” đảng viên; bồi dưỡng 2.766 quần chúng là nguồn phát triển Đảng; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho hàng nghìn cán bộ trưởng, phó thôn bản, buôn, ấp; giúp hàng nghìn chi bộ đi vào hoạt động có nền nếp. Kết quả trên không chỉ góp phần thay đổi bố trí dân cư mà còn tạo thế trận lòng dân, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc dọc khu vực biên giới.
 
Cùng với đó, các Đoàn KTQP hoàn thành xây dựng 403 tuyến đường giao thông các loại với tổng chiều dài 1.499 km, 89 cầu bê tông và cầu treo, 43.786 m2 nhà lớp học, 130 công trình cấp điện tập trung với 14.636 km đường dây, 154 trạm biến áp và 114 công trình cấp nước sạch tập trung phục vụ 20.238 hộ dân; 58 bệnh xá quân y và 33 bệnh xá quân dân y; 166 công trình thủy lợi vừa và nhỏ... các công trình đó gắn chặt với quy hoạch chung, sau khi hoàn thành bàn giao cho địa phương sử dụng có hiệu quả phục vụ phát triển KT - XH. 
 
Về phát triển KT, các Khu KTQP sản xuất tập trung (Binh đoàn 15, 16, Công ty cà phê 15) đã trồng được 44.551 ha cao su (Binh đoàn 15 là 41.142 ha, Binh đoàn 16 là 2.697 ha, Công ty cà phê 15 là 712 ha) trong đó có 35.000 ha cao su đang thời kỳ kinh doanh cho sản phẩm; 2.718 ha cà phê (Binh đoàn 15 có hơn 387 ha, Binh đoàn 16 có hơn 1,476 ha, Công ty cà phê 15 có 855 ha); hơn 10.000 ha điều cao sản (năm 2016 còn 700 ha, do chuyển đổi cây trồng) và gần 1.000 ha nguyên liệu giấy... tạo công ăn việc làm cho hơn 2 vạn hộ gia đình đồng bào sinh sống trên địa bàn Tây Nguyên; lợi nhuận đạt hàng chục tỷ đồng/năm. Đặc biệt, trong các vụ bạo loạn chính trị (2001 và 2004), trên địa bàn của Tổng Công ty 15 và 16 không có người nào tham gia. 
 
Các Đoàn KTQP không tổ chức sản xuất tập trung đã giúp nhân dân thông qua tổ chức dịch vụ hai đầu (thu mua, chế biến nông sản, cung cấp vật tư, chuyển giao công nghệ...) và làm nòng cốt hỗ trợ dân xóa đói, giảm nghèo; phát triển kinh tế, tổ chức xây dựng cơ sở hạ tầng kết hợp với bố trí lại cơ cấu dân cư dọc biên giới; tham gia Chương trình 135 về phát triển KT - XH các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi và Chương trình khuyến nông; triển khai các Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ, nhân rộng mô hình giảm nghèo. Đã triển khai được 266 mô hình chăn nuôi cho 10.759 hộ dân, 18 mô hình trồng trọt cho 7.526 hộ dân, tập huấn chuyển giao kỹ thuật được 537 lớp cho 21.774 lượt người và nhiều mô hình khác, tổng giá trị đạt hơn 145 tỷ đồng. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo tại địa bàn triển khai các Khu KTQP từ 45-90%, nay còn 30-10% . 
 
Thực tiễn những năm qua cho thấy, xây dựng, phát triển các Khu KTQP là chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước ta, kế thừa những kinh nghiệm truyền thống quý báu của dân tộc, đã mang lại hiệu quả tổng hợp và to lớn: Góp phần phát triển bền vững KT - XH, củng cố và tăng cường tiềm lực, thế trận QP, AN, tạo vành đai biên giới, biển, đảo vững chắc trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Các Khu KTQP thực sự là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của chính quyền và nhân dân địa phương; góp phần tích cực xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, tăng cường lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội...
 
Kết hợp KT với QP là vấn đề chiến lược trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta. Từ Đồn điền binh trước đây đến Khu KTQP ngày nay là sự tiếp nối lịch sử, nhưng có sự phát triển vượt bậc cả về lượng và chất. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của các địa phương, các Khu KTQP đã và sẽ phát triển hoàn thiện ở tầm cao mới; nhằm thu hút, phát huy tiềm năng to lớn của Quân đội, địa phương và nhân dân, phục vụ đắc lực cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Điền và một số tác giả, “Tìm hiểu công tác hậu cần thời xưa”, Bộ Tham mưu hậu cần, 1977.
2. “Binh thư yếu lược”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1970.
3. Phan Huy Lê, “Tìm hiểu kế sách giữ nước thời Lý - Trần - Lê”, Tạp chí QĐND số 12/1976.
4. Phan Huy Lê, “Chế độ ruộng và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ”, Nxb văn sử địa Hà Nội, 1959.
5. Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, 1998.
6. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, 1999.
7. Báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng Khu KTQP giai đoạn 2010-2020 của Cục Kinh tế/BQP.
 
Thượng tá, TS. Lê Thành Công
Cục Kinh tế/Bộ Quốc phòng