Ngày 15/11/1953, được tin một đơn vị chủ lực của ta tiến lên Tây Bắc giải phóng thị xã Lai Châu, từ 20 - 22/11/1953 tướng Nava cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, sau đó tiếp tục tăng quân xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhằm thu hút, “nghiền nát” chủ lực ta.
Chiều ngày 07/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam hiên ngang tung bay trên nóc hầm tướng De Castries.
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm và kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ - trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, thời gian khoảng 45 ngày, sử dụng 3 đại đoàn bộ binh, toàn bộ pháo binh, công binh, lực lượng phòng không... quân số khoảng 35.000 người. Theo đó, nhu cầu chiến dịch gồm: 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh...; ngày 20/1/1954 phải hoàn thành công tác chuẩn bị.

Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tá
Tổng Quân ủy nhận định: “Để tiến hành chiến dịch rất lớn này, ta có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá"(1). Bởi các tuyến vận tải lên Điện Biên Phủ rất dài (từ Việt Bắc, Thanh Hóa lên hơn 600 km; từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km), qua nhiều sông suối, địa hình rừng núi hiểm trở, đường hẹp và xấu; địch đánh phá ác liệt, trong đó có 40 điểm có thể cắt đứt hiệu quả lớn. Mặt khác, Tây Bắc dân cư thưa thớt, rất nghèo, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, nhu cầu vật chất chiến dịch chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên.
Ban đầu (15/1/1954), Bộ Chỉ huy chiến dịch dự kiến phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh”, giải quyết chiến dịch trong 2 ngày, 3 đêm. Sau khi cân nhắc kỹ các yếu tố, thấy địch đã tăng cường lực lượng (tổng số khoảng 11 tiểu đoàn) và hệ thống phòng thủ, “Đánh nhanh, thắng nhanh” không đảm bảo chắc thắng nên sáng ngày 26/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh - Bí thư Đảng ủy chiến dịch quyết định chuyển phương châm tiêu diệt địch sang “Đánh chắc, tiến chắc”; hoãn ngày mở màn chiến dịch và lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về vị trí tập kết, kéo pháo ra và tiếp tục chuẩn bị cho chu đáo hơn. Nhất trí với phương châm tác chiến của Đại tướng, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho toàn Đảng, toàn dân dốc toàn lực chi viện cho tiền tuyến. Hội đồng Cung cấp Mặt trận Trung ương và ở các địa phương được thành lập để huy động nhân tài, vật lực. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được Trung ương cử vào Thanh Hóa để chỉ đạo việc huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch... Hệ thống đường giao thông vận tải từ hậu phương lên Điện Biên Phủ được tu sửa, mở mới khẩn trương.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (áo đen) cùng các tướng lĩnh quân đội Việt Nam hoạch định kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ tháng 3/1954.
Ở mặt trận Điện Biên Phủ, đầu tháng 2/1954, lực lượng chiến đấu của ta đã tăng lên 4 Đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304), Đại đoàn công pháo 351, các đơn vị binh chủng, phục vụ... Quân số chiến đấu lên tới 43.000 người, nhu cầu vật chất tăng nhiều lần so với kế hoạch ban đầu(2).
Việc bảo đảm cho chiến dịch chia thành 2 tuyến. Tuyến hậu phương do Tổng cục Cung cấp và Hội đồng Cung cấp các Liên khu Việt Bắc, 3, 4 đảm nhiệm. Tuyến chiến dịch do Tổng cục Cung cấp tiền phương và Hội đồng Cung cấp Liên khu Tây Bắc đảm nhiệm. Tuyến hậu phương giao dân công, vũ khí, đạn dược, thuốc quân y, xăng dầu, gạo, muối... cho tuyến chiến dịch ở Ba Khe, Nghĩa Lộ trên Đường 13, hướng từ Việt Bắc sang và ở Suối Rút, Bãi Sang trên Đường 41 (hướng Liên khu 3, 4 lên). Tuyến hậu cần chiến dịch dài trên 350 km, có 4 binh trạm lo bảo đảm cho bộ đội hành quân, chuyển vật chất lên phía trước.
Để tập trung lực lượng cho phía trước, cuối giai đoạn chuẩn bị, hậu cần có sự điều chỉnh. Tuyến hậu phương của Tổng cục Cung cấp và Hội đồng Cung cấp mặt trận các liên khu vươn lên Sơn La. Cơ quan Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương vươn lên sát Cò Nòi chỉ đạo việc huy động nhân lực, vật lực của các Liên khu 3, 4, Việt Bắc. Hậu cần chiến dịch điều chỉnh thành 3 tuyến (mỗi tuyến có kho, trạm, lực lượng quân y và vận tải...): Tuyến Sơn La - Tuần Giáo do đồng chí Đinh Đức Thiện phụ trách; tuyến Tuần Giáo - Lai Châu do đồng chí Vũ Văn Đôn phụ trách; tuyến hậu cần hỏa tuyến trực tiếp bảo đảm cho chiến đấu, do đồng chí Nguyễn Thanh Bình phụ trách. Các bệnh xá, bệnh viện, đơn vị dân công, vận tải được bố trí theo các tuyến hậu cần. Các trung, đại đoàn triển khai các bộ phận hậu cần đồng bộ; các kho vật chất phía trước được ngụy trang kín đáo, bảo đảm bí mật, an toàn. Hậu cần chiến dịch còn tổ chức tuyến vận tải Sơn La - Mường Luân - Nà Sang, phối hợp với các địa phương huy động nhân vật lực bảo đảm cho các đơn vị tác chiến ở Hồng Cúm và khắc phục mọi khó khăn tổ chức tuyến vận tải thủy trên sông Nậm Na (đoạn từ Ba Nậm Cúm về Lai Châu), chuyển 1.700 tấn gạo Trung Quốc giúp để bảo đảm cho các đơn vị(3)... Sau hơn 1 tháng, công tác chuẩn bị chiến dịch theo phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” hoàn thành. Đúng 17 giờ 05 phút ngày 13/3/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn bằng trận đánh tiêu diệt vị trí Him Lam, sau đó là Độc Lập. Các tuyến hậu cần khẩn trương bảo đảm cho bộ đội chiến đấu.

Dân công thồ hàng bằng xe đạp phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ
Nhằm cắt đứt các tuyến chi viện của ta, địch đã tập trung không quân đánh 1.186 trận vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất là 250 lần chiếc (có cả B26). Các Đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, Bến phà Tạ Khoa... là trọng điểm đánh phá của địch. Để bảo đảm giao thông, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 2 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm, một số tiểu đoàn 12,7 mm bắn máy bay địch; 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công liên tục bám các trục đường khắc phục hậu quả địch đánh phá. Vì vậy “...Hiếm có đoạn đường nào bị đứt quá 24 giờ. Hơn nữa, trong thời gian đường bị cắt đứt, việc vận chuyển vẫn được tiếp tục bằng cách chuyển tải hoặc đi vòng đường khác”(4). Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, hậu cần chiến dịch đã lấy vận tải cơ giới là chủ yếu, đồng thời tranh thủ mọi phương tiện thô sơ và sức người. Toàn bộ 16 đại đội ô tô vận tải (534 xe) của Tổng cục Cung cấp được sử dụng (tuyến chiến dịch sử dụng 446 xe); có thời gian còn được tăng cường 94 xe của các các đơn vị binh chủng. Để chỉ huy vận tải trên các tuyến, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tăng cường phương tiện thông tin; tuyến vận tải chiến dịch đã bố trí 18 trạm điều chỉnh giao thông... Phong trào thi đua “Vượt cung, tăng chuyến, tiết kiệm xăng dầu, giữ gìn xe tốt”... trong các đơn vị vận tải cơ giới phát triển mạnh mẽ. 261.451 dân công (bằng 12 triệu ngày công); hơn 20.000 xe đạp thồ; hàng ngàn thuyền mảng, ngựa thồ... được huy động phục vụ chiến dịch. Nhà báo Giuyn Roa, nguyên đại tá quân đội Pháp viết: “... không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Nava mà đó là những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200 - 300 kg hàng, do những dân công ăn không no, ngủ trên những tấm nilon trải ngay trên mặt đất. Tướng Nava bị đánh bại bởi trí thông minh và quyết tâm chiến thắng của đối phương”(5).

Bộ đội và dân công mở đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ
Để bảo đảm sức khỏe cho bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày, điều kiện nuôi dưỡng rất khó khăn, hậu cần các cấp đã chế biến các loại thực phẩm khô, ướp muối thịt, muối dưa... gửi lên mặt trận. Hậu cần Đại đoàn 316 đưa được 70 con bò từ Thanh Hóa lên mặt trận, khai thác hàng ngàn hoa chuối rừng làm rau. Hậu cần Đại đoàn công pháo 351 cung cấp gần 100 tấn thịt ướp muối cho các đơn vị. Hậu cần Đại đoàn 312 tổ chức 100 xe thồ chuyển thực phẩm từ Phú Thọ lên mặt trận. Đại đoàn 308 đã khai thác tại chỗ 52 tấn củ mài, 32 tấn rau rừng, đánh bắt 32 tấn cá; nhiều đơn vị ngâm giá đỗ, cử các tổ tiếp phẩm vào các bản đồng bào Hmông mua thực phẩm. Đợt 2 chiến dịch, bộ đội đào hào đánh lấn dưới làn hỏa lực ác liệt của địch, trời mưa, chiến hào lầy lội... các đơn vị tổ chức tăng dự trữ lương thực thực phẩm, củi khô, nước (hoặc đào giếng), đào bếp Hoàng Cầm tại trận địa; củng cố hầm ngủ nghỉ, nhà vệ sinh dã chiến và luân phiên tắm giặt... nên sức khoẻ bộ đội dần khôi phục và ổn định(6). Do chiến đấu ác liệt, liên tục, dài ngày, thương bệnh binh tăng gấp đôi dự kiến, nên toàn bộ 7 Đội điều trị của Cục Quân y, 4 Đội điều trị các Đại đoàn đã được triển khai bảo đảm... Nhiều giáo viên, sinh viên Trường Đại học y - dược, các thầy thuốc nổi tiếng như Bộ trưởng Y tế Vũ Đình Tụng, Thứ trưởng Tôn Thất Tùng cũng tham gia cứu chữa thương binh tại mặt trận(7).
Sau 3 đợt với 55 ngày đêm chiến đấu liên tục, kiên cường, 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” Bác Hồ tặng Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch (trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu); cứu chữa 8.458 thương bệnh binh; bảo đảm 1.200 tấn đạn 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác (gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu). Nhân dân Tây Bắc vừa được giải phóng, dù rất nghèo, đời sống còn rất thiếu thốn nhưng đã huy động 7.311 tấn gạo, 389 tấn thịt, 800 tấn rau, 31.818 lượt dân công, 914 ngựa thồ phục vụ chiến dịch(8). Với tinh thần “Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”, quân và dân ta đã vượt mọi khó khăn, bảo đảm cho chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: “...Trên mặt trận Điện Biên Phủ, vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật, khó khăn về cung cấp thực không kém khó khăn về tác chiến. Tình hình cung cấp khẩn trương từng ngày, từng giờ, không kém tình hình chiến đấu... quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù”(8).

Bộ đội ta vượt qua cầu Mường Thanh, tấn công vào Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chiều ngày 07/5/1954.
Công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ có bước tiến vượt bậc và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về: Quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược, kết hợp hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân, khắc phục mọi khó khăn, tổ chức BĐHC sáng tạo và hiệu quả; tổ chức chỉ huy, chỉ đạo, bảo vệ hậu cần chặt chẽ, lấy vận tải làm trung tâm; bảo đảm sức khỏe, cứu chữa vận chuyển thương binh hợp lý để bộ đội chiến đấu liên tục, dài ngày ở địa hình rừng núi, xa hậu phương... Vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm đó, ngành Hậu cần Quân đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hai cuộc chiến đấu ở biên giới phía Bắc, phía Tây Nam. 68 năm đã qua, những bài học trên vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu kế thừa trong xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần của nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và chiến tranh nhân dân (CTND) bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là một số vấn đề sau:
Một là, kế thừa, phát triển bài học về quán triệt chủ trương và quyết tâm chiến lược của Đảng trong BĐHC chiến dịch Điện Biên Phủ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối QPTD và CTND, quan điểm hậu cần toàn dân của Đảng, trực tiếp là chiến lược bảo vệ Tổ quốc do Hội nghị Trung ương 8 (khoá XI) ban hành để vận dụng sáng tạo trong hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần của QPTD, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận hậu cần CTND bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đó, cần phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân, lấy hậu cần nhân dân rộng khắp làm cơ sở, hậu cần KVPT làm nền tảng và hậu cần chiến lược, chiến dịch làm nòng cốt. Trước hết, tham mưu cho Bộ về quy hoạch, xây dựng CCHC chiến lược; chỉ đạo xây dựng CCHC quân khu, CCHP và CCHC các KVPT, ưu tiên xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hậu cần; trồng, bảo vệ, chăm sóc rừng, vừa tạo cảnh quan môi trường, vừa ngụy trang các công trình... Thực hiện gắn hậu cần với dân và kinh tế, nhất là ở địa bàn trọng yếu. Từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách để thu hút, huy động nguồn lực hậu cần của toàn dân; kế hoạch động viên thời chiến; kế hoạch hậu cần bảo đảm cho các tình huống ở các cấp... Đồng thời, tích cực tham gia phát triển kinh tế, góp phần tạo nguồn hậu cần tại chỗ ngày càng vững chắc.
Hai là, từ bài học về kết hợp hậu cần quân đội và hậu cần nhân dân, lấy hậu cần quân đội làm nòng cốt trong chiến dịch Điện Biên Phủ; trong tình hình mới, cần quan tâm nghiên cứu đầu tư từng bước tinh gọn tổ chức và hiện đại hóa trang thiết bị hậu cần, làm cơ sở đổi mới phương thức bảo đảm phù hợp với tác chiến tương lai. Theo đó, cần hoàn thiện chiến lược và kế hoạch hiện đại hóa trang bị hậu cần quân đội, ưu tiên cho Quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân và các lực lượng tác chiến mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời, có lộ trình đầu tư thích hợp cho các đơn vị còn lại với định hướng: Gọn, nhẹ, tiện dụng, đi thẳng vào công nghệ hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tác chiến tương lai. Trọng tâm là phát triển trang bị vận tải có khả năng tàng hình, thích ứng với nhiều địa hình và trang bị quân y bảo đảm dã chiến hiện đại. Mặt khác, cần xây dựng lực lượng hậu cần dự bị động viên các cấp hợp lý, chất lượng cao, nhất là lực lượng quân y và vận tải cấp chiến lược, chiến dịch, sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống.
Ba là, từ bài học về khả năng huy động hậu cần tại chỗ trong chiến dịch Điện Biên Phủ rất hạn chế, trong tình hình mới, cần nghiên cứu, đầu tư xây dựng hậu cần tại chỗ trên các địa bàn chiến lược, nhất là địa bàn chiến lược trọng điểm ngày càng vững chắc.
Các địa bàn chiến lược, trong đó Tây Bắc có vai trò rất quan trọng trong thế trận QPTD và CTND bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế kết hợp với củng cố QP, AN, trên cơ sở quy hoạch và kết hợp nguồn lực của Trung ương, địa phương, Quân đội và nhân dân... từng bước hoàn thiện thế trận và tiềm lực hậu cần tại chỗ vững chắc. Trước hết, cần tập trung chỉ đạo, đầu tư xây dựng hậu cần KVPT tỉnh, thành phố theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị - Khóa X, Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22/2/2019 của Chính phủ. Theo đó, cần kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng cung cấp các cấp; xây dựng lực lượng hậu cần dự bị động viên chất lượng cao... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP, AN trong xây dựng CCHP, CCHC; ưu tiên xây dựng đường giao thông, cơ sở y tế, chế biến, kho trạm... định kỳ kiểm tra, diễn tập và có giải pháp đồng bộ không ngừng nâng cao khả năng BĐHC tại chỗ.
Hậu cần chiến lược và hậu cần các quân khu từng bước hoàn thiện thế trận hậu cần trên từng hướng, địa bàn chiến lược; ưu tiên xây dựng các căn cứ, cơ sở hậu cần gắn với các cơ sở kinh tế và mạng đường giao thông trên từng địa bàn. Đồng thời, có kế hoạch đưa đến dự trữ trước vật chất, nhất là vật chất chiến lược quý hiếm; tổ chức các cơ sở sản xuất chế biến tại chỗ, dự trữ các dây truyền hoặc công suất các nhà máy ở từng địa bàn trước khi có chiến tranh...
Bốn là, từ bài học về chỉ huy, chỉ đạo, bảo vệ hậu cần, lấy vận tải là khâu trung tâm trong BĐHC chiến dịch Điện Biên Phủ; cần nghiên cứu vận dụng phù hợp với điều kiện mới, nhằm duy trì khả năng BĐHC kịp thời, liên tục trong mọi tình huống. Tác chiến tương lai, nhất là trong các chiến dịch, chiến dịch chiến lược rất khẩn trương, ác liệt, biến động cao, nhiều tình huống đột biến... Chỉ huy, chỉ đạo hiệp đồng hậu cần phải thống nhất, xử trí tình huống phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với quyết tâm, diễn biến tác chiến. Tổ chức thông tin liên lạc chỉ huy hậu cần phải thông suốt, đảm bảo bí mật, an toàn, kết hợp các phương tiện, lực lượng thông tin liên lạc trên địa bàn. Trong bảo vệ hậu cần phải có phương án, kế hoạch và hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn. Từ thời bình, cần nghiên cứu các giải pháp tổng hợp trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, kinh nghiệm của ta và các nước để bảo toàn lực lượng hậu cần trong tác chiến tương lai. Chú trọng nâng cao khả năng cơ động, phòng tránh, kỹ năng chiến đấu của các lực lượng hậu cần. Triệt để tận dụng và cải tạo địa hình trong bố trí hậu cần; có đủ công trình phòng hộ, nhất là nơi trọng điểm. Vận dụng linh hoạt biện pháp cơ động, ngụy trang, nghi trang... trong bảo vệ hậu cần.
Cùng với thời gian, chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ... mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta. Kế thừa và phát triển các kinh nghiệm BĐHC trong chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương - Bộ Quốc phòng, với bản lĩnh và trí tuệ, ngành Hậu cần Quân đội nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, 2, 3, 4, 5, 7. Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, 1995, các tr.270 - 271, 277, 279, 289, 284, 287.
6. Lịch sử quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975) Nxb QĐND, 1998, tr.205.
8, 9. Lịch sử hậu cần... Sđd, tr.289 và 291.
Thượng tá, TS. Lê Thành Công
Đại tá, ThS. Trần Đình Quang