Hoàn thiện cơ chế, chính sách hoạt động của Đoàn kinh tế quốc phòng trong tình hình mới

24/09/2021, 09:46

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc quân đội phát huy vai trò nòng cốt tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược, Bộ Quốc phòng chủ trương lựa chọn những địa bàn đặc biệt khó khăn, trống dân, thưa dân, địa bàn nhạy cảm về vấn đề dân tộc, tôn giáo dọc biên giới để xây dựng các Khu kinh tế quốc phòng (KTQP). Một mặt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các vùng dự án, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh; mặt khác, thực hiện đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng với đồng bào những nơi trước kia là căn cứ cách mạng, căn cứ chiến đấu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 5 cùng cấp ủy, chính quyền và Nhân dân bản Cò Cài làm đường, vệ sinh khơi thông cống rãnh.

Qua gần 20 năm thực hiện, đến nay, toàn quân đã triển khai xây dựng được 28 Khu KTQP. Các Khu KTQP đã và đang phát huy hiệu quả trên nhiều mặt; góp phần tạo nên thế và lực mới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh ở các vùng đất biên cương của Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật đã đạt được, quá trình xây dựng các Khu KTQP cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Một trong các nguyên nhân dẫn tới những tồn tại, hạn chế đó là: cơ chế, chính sách hoạt động của Đoàn KTQP còn chưa được hoàn thiện. Do vậy, cần phải tiếp tục có những giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ chế, chính sách; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các Đoàn KTQP trong tình hình mới.
 
Một là: Cụ thể hóa chính sách đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đoàn kinh tế quốc phòng
 
Trước hết, cần nghiên cứu bổ sung, đổi mới, điều chỉnh một số tiêu chí, tiêu chuẩn lựa chọn, bổ nhiệm, điều động cán bộ, sỹ quan hoạt động ở các Đoàn KTQP. Bảo đảm cho việc bố trí hợp lý các chức danh, cấp bậc quân hàm, độ tuổi và đặc biệt là năng lực, trình độ, phẩm chất đội ngũ cán bộ; cân đối giữa sỹ quan chỉ huy - tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; giữa sỹ quan và quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng.
 
Chính sách lựa chọn, bố trí cán bộ cần tránh khuynh hướng “quân sự”, “chính trị”, “kinh tế” hoặc “kỹ thuật” đơn thuần. Đặc biệt, không nên điều động, bố trí, bổ sung vào Đoàn KTQP những cán bộ đã “miễn nhiệm”, “chuẩn bị giải quyết chính sách”, cán bộ vi phạm kỷ luật, phẩm chất chính trị kém… Thực tế cho thấy, nếu đội ngũ cán bộ không đồng đều giữa tham mưu - chính trị - hậu cần - kỹ thuật thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.
 
Định kỳ hàng năm, cơ quan cán bộ cấp trên cần quan tâm phân bổ chỉ tiêu; đồng thời chỉ đạo, phối hợp, giúp đỡ cơ quan cán bộ của các Đoàn KTQP xây dựng quy hoạch, lựa chọn nhân sự gửi đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn tại các nhà trường quân đội hoặc các trường Đảng trực thuộc tỉnh (thành phố). Đối tượng cử đi đào tạo cần có sự cân đối, hài hòa giữa cán bộ đương chức với cán bộ trẻ, cán bộ là nguồn kế cận; cán bộ cấp chiến thuật - chiến dịch với cán bộ phân đội và cán bộ chuyển loại diện 801. Cần có chính sách cụ thể ưu tiên cán bộ, nhân viên, chiến sĩ thuộc biên chế là người địa phương, người dân tộc thiểu số.
 
Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng là trung tâm phối hợp với Tổng cục Hậu cần, một số Học viện, Nhà trường trong và ngoài quân đội (Đại học Nông nghiệp, Đại học Lâm nghiệp…) mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn trong hoặc gần Khu KTQP (có thể phân theo khu vực Bắc, Trung, Nam; giúp số đông cán bộ, nhân viên của các Đoàn KTQP có cơ hội được bồi dưỡng, tiếp thu những kiến thức về quản lý kinh tế, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nghiệp vụ kinh doanh, kết hợp kinh tế với quốc phòng…; đặc biệt là những kiến thức về xã hội, pháp luật, dân tộc, tôn giáo, nghiệp vụ công tác đảng công tác chính trị, kỹ năng kiến thức công tác dân vận.
 
Nhà nước, Bộ Quốc phòng, các Quân khu cần có chính sách cụ thể, tạo điều kiện cần thiết giúp các Đoàn KTQP tự tổ chức đào tạo lại tại chỗ đội ngũ cán bộ, nhân viên trên lĩnh vực: kinh tế, quân sự, chính trị. Đồng thời, cần điều chỉnh chính sách thu hút, bổ sung vào biên chế, tăng đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp của các Đoàn KTQP; ưu tiên người dân tộc thiểu số, trí thức trẻ tình nguyện, những người gắn bó lâu dài với đơn vị, địa bàn.
 
Hai là: Thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn kinh tế quốc phòng
 
Chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên, chiến sĩ các Đoàn KTQP cần tính tới đặc điểm và tính chất phức tạp, khó khăn của nhiệm vụ mà Đoàn KTQP thực hiện. Theo đó, cần xây dựng một hệ thống chế độ, chính sách đặc thù riêng cho các Đoàn KTQP; bảo đảm có sự hợp lý, hấp dẫn, giải quyết thỏa đáng giữa trách nhiệm và quyền lợi, giữa trước mắt và lâu dài để có thể vừa thu hút, vừa động viên tinh thần, tạo sự hưởng ứng sâu rộng của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn KTQP; khuyến khích họ thực sự yên tâm, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ. Hệ thống chế độ, chính sách này sẽ hết hiệu lực thi hành khi Đoàn KTQP hoàn thành dự án.
 
Cục Quân lực, Cục Cán bộ và các cơ quan chức năng khác cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện một cách hợp lý hệ thống chức danh của đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn KTQP để làm cơ sở cho việc quy định trần quân hàm; bảo đảm có sự ưu tiên nhất định, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ và điều kiện công tác của các Đoàn KTQP. Hiện nay, trần quân hàm chưa thật hợp lý đối với một số trường hợp cụ thể ở một số đơn vị đã và đang phần nào tác động tiêu cực tới tư tưởng, sự yên tâm công tác và nhiệt huyết phấn đấu của một bộ phận cán bộ, sỹ quan. Các chính sách về xét thăng quân hàm, trần quân hàm, ngạch bậc quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng cần phải được ưu tiên. Bộ Quốc phòng cần xác định cấp tương đương của các đơn vị trong Đoàn KTQP một cách hợp lý. Các chức danh trong Đoàn KTQP khi xét thăng quân hàm, tăng lương cần được vận dụng theo hướng tạo điều kiện tối đa để tạo động lực làm việc.
 
Đối với chính sách về thu nhập, hiện nay, về cơ bản tiền lương vẫn được coi là nguồn thu nhập chính của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn KTQP. Cần linh hoạt trong trả lương bằng ngân sách quốc phòng và bằng kết quả sản xuất kinh doanh; sao cho có lợi nhất cho người hưởng lương. Ngoài tiền lương, các lực lượng tham gia vùng dự án cần được hưởng các khoản phụ cấp một cách thỏa đáng như: phụ cấp vùng khó khăn, phụ cấp ưu đãi (thu hút), phụ cấp đi cơ sở… theo quy định hiện hành của Nhà nước trong suốt thời gian thực hiện dự án. Các loại phụ cấp và mức hưởng, ít nhất cũng phải được ngang bằng với bộ đội biên phòng ở các đồn, trạm biên giới, hải đảo. Trong mỗi vùng, cần có các tỉ lệ khác nhau tùy tính chất công việc; khi không công tác ở vùng đó, thôi làm nhiệm vụ thì thôi hưởng. 
 
Đối với chế độ tiền ăn và công tác phí, cần phải được quan tâm đúng mức. Tiêu chuẩn tiền ăn đặc thù đối với Đoàn KTQP cần được áp dụng cho tất cả các Đoàn. Riêng đối với người hưởng lương được ăn theo tiêu chuẩn ăn đặc thù và chỉ nộp tiền ăn theo tiêu chuẩn ăn cơ bản của bộ binh trong vùng, phần chênh lệch do ngân sách Nhà nước đài thọ. Công tác phí cần được trả theo chế độ cán bộ đi công tác ở miền núi, kể cả đi công tác trong vùng và sang các vùng khác. 
 
Nhà nước và quân đội cần tiếp tục ưu tiên, tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất; có vận dụng linh hoạt tùy điều kiện cụ thể cho các Đoàn KTQP. Ngoài việc trực tiếp góp phần nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ, giúp họ yên tâm, phấn khởi hoàn thành tốt nhiệm vụ thì còn góp phần phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới từng bản, làng và người dân trong Khu KTQP.
 
Cần có chế độ, chính sách thỏa đáng hơn để động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên trong Đoàn KTQP chuyển gia đình tới định cư lâu dài tại Khu KTQP. Thêm một gia đình “an cư, lạc nghiệp” ở những địa bàn chiến lược, xung yếu thì “phên dậu” của Tổ quốc sẽ càng vững chắc. Đặc biệt, với ưu thế về nhận thức, trình độ văn hóa, nếp nghĩ, cách làm…, các gia đình quân nhân sẽ cùng với chồng con, anh em mình tham gia tích cực và hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của địa phương. Họ sẽ là những điểm sáng, tấm gương để đồng bào các dân tộc noi theo trong các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh. Sau một thời gian công tác ở vùng dự án (công nhân viên khoảng 5 năm, quân nhân chuyên nghiệp và sỹ quan khoảng 10 năm), nếu có nguyện vọng, cần được xét cho thuyên chuyển công tác hoặc hợp lý hóa gia đình. Khuyến khích cho con em cán bộ đến công tác ở Khu KTQP và ưu tiên đào tạo các ngạch bậc ngành nghề, các trường Cao đẳng, Đại học… sau khi tốt nghiệp lại trở về các Đoàn KTQP công tác.
 
Ba là: Quan tâm đúng mức tới chính sách thi đua, khen thưởng đối với các Đoàn kinh tế quốc phòng
 
Chính sách thi đua, khen thưởng là vấn đề cần được quan tâm đúng mức bởi nó trực tiếp động viên, khuyến khích sự phấn đấu vươn lên của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn KTQP; giúp họ vượt qua những khó khăn tạm thời, trước mắt; thúc đẩy quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
 
Để làm tốt công tác này, về tổ chức, có thể phân các Đoàn KTQP theo cụm thi đua: cụm các Đoàn KTQP từ Quân khu IV trở ra (gồm các Đoàn không có pháp nhân kinh tế, không tổ chức sản xuất tập trung) và cụm các Đoàn KTQP từ Quân khu IV trở vào (gồm các Đoàn có pháp nhân kinh tế, tổ chức sản xuất tập trung); hoặc phân theo cấp quản lý: khối các Đoàn KTQP trực thuộc Bộ Quốc phòng và khối các Đoàn KTQP trực thuộc Quân khu. Như thế, việc đánh giá, bình xét thi đua, khen thưởng sẽ đạt hiệu quả, công bằng và chính xác hơn. Định kỳ 6 tháng, 1 năm, 5 năm…, bên cạnh chế độ và các hình thức khen thưởng thi đua chung của quân đội, Bộ Quốc phòng hoặc Cục Kinh tế (được Bộ Quốc phòng ủy quyền) trao cờ thưởng, cúp… cho các Đoàn KTQP có thành tích xuất sắc trên những mặt công tác cụ thể (tham gia phủ xanh đất trống, đồi trọc; xóa đói giảm nghèo; tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; tham gia xây dựng đời sống văn hóa mới ở địa phương…). Đồng thời, Cục Kinh tế có thể tham mưu, đề xuất, trình các cấp có thẩm quyền cho phép bổ sung vào hệ thống các hình thức khen thưởng của quân đội và Nhà nước một loại danh hiệu hoặc kỷ niệm chương dùng để suy tôn, trao tặng cho những cá nhân có niên hạn phục vụ nhất định tại Khu KTQP mà có thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
 
Chính sách khen thưởng còn cần quan tâm tới các gia đình quân nhân; tới cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đoàn KTQP có thành tích hòa nhập tốt, sản xuất giỏi, đóng góp nhiều vào sự phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, có thành tích bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tích cực tuyên truyền và vận động nhân dân yên tâm lập nghiệp, xây dựng cuộc sống mới trên địa bàn…
 
Bốn là: Xây dựng cơ chế khai thác, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trong các Khu kinh tế quốc phòng
 
Đối với vốn ngân sách Nhà nước cấp, cần xây dựng cơ chế cấp phát, quản lý vốn phù hợp; sao cho đồng vốn đến dự án nhanh nhất, nhiều nhất. Công tác cấp phát, phân phối vốn không nên qua nhiều kênh, nhiều khâu mà cần được vận dụng cấp trực tiếp đến Đoàn KTQP; cấp phát theo hạn mức, thanh toán kỳ trước, tạm ứng kỳ sau cho từng dự án; bảo đảm kiểm soát được cả trước, trong và sau đầu tư. Thực hiện đúng phân kỳ đầu tư đã được duyệt; bảo đảm cho cấp trên có cơ sở tiến hành cấp vốn và các Đoàn KTQP thực hiện dự án đúng tiến độ. Kết hợp vốn dự án Khu KTQP với nguồn vốn của các chương trình, mục tiêu quốc gia đang triển khai trong Khu KTQP để tăng hiệu quả đầu tư. Đặc biệt là các dự án như: xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn miền núi; xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao; dự án quy hoạch, bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết; dự án ổn định và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; dự án đào tạo cán bộ xã, bản, làng; chương trình 12 kết hợp quân dân y; chương trình 327 trồng 5 triệu ha rừng theo dự án 661…
 
Đối với vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, ngân hàng địa phương cần linh hoạt trong hình thức cho vay, mức vay, đối tượng vay và thời gian vay để tạo điều kiện cho nhân dân trong Khu KTQP có vốn đầu tư vào sản xuất. Lãi xuất cho vay phải thực sự ưu đãi để bảo đảm cho người nông dân vay vốn thực hiện được tái sản xuất. Trong điều kiện rủi ro, bất khả kháng như thiên tai, mất mùa… cần phải khoanh nợ, dãn nợ, tạo điều kiện cho hộ nông dân phục hồi sản xuất. Làm tốt việc giám sát sử dụng vốn của ngân hàng đối với hộ vay vốn. Đoàn KTQP phối hợp với địa phương hướng dẫn cho hộ nông dân lập kế hoạch làm ăn để sử dụng đồng vốn có hiệu quả. Còn ngân hàng phải thực sự vì người nghèo; lấy việc thoát nghèo cho nông dân làm tiêu chí và mục đích kinh doanh của mình. Trong các ngân hàng, lấy Ngân hàng Chính sách xã hội là nơi trực tiếp cấp vốn cho nông dân.
 
Đối với vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tỉnh, huyện có Khu KTQP cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư trên cơ sở chủ động xây dựng các dự án để kêu gọi đầu tư của các tổ chức, cá nhân. Thực hiện thu hút đầu tư một cách chủ động; ưu tiên cho các dự án phát triển trang trại nông lâm nghiệp, dự án xây dựng cơ sở chế biến hàng nông lâm sản, kinh doanh dịch vụ thương mại, công nghiệp nhỏ. Cải thiện môi trường đầu tư như chuẩn bị tốt về kết cấu hạ tầng, thực hiện các chế độ ưu đãi về mức đóng thuế, trợ giá, trợ cước…; tạo động lực cho các nhà đầu tư. Giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa sản xuất kinh doanh với bảo đảm quốc phòng - an ninh cho nhà đầu tư. Lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp với điều kiện nông thôn miền núi. Trong đó, hình thức 100% vốn của chủ đầu tư phù hợp với lĩnh vực chế biến nông lâm sản, công nghiệp nhỏ và dịch vụ; hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các cá nhân theo kiểu hợp tác xã dịch vụ phù hợp với lĩnh vực tiêu thụ nông lâm sản, dịch vụ vận chuyển, kinh doanh vật tư nông nghiệp, hàng tiêu dùng, sửa chữa nhỏ.
 
Đối với vốn trong dân (biểu hiện dưới các dạng: sức lao động, tài sản, của cải, tiền nhàn rỗi…), cần có cơ chế xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm đóng góp của nhân dân trong Khu KTQP; được phân biệt theo mục tiêu và đối tượng đầu tư của từng dự án. Các công trình được xây dựng mang tính công ích như đường sá, cầu cống, trạm y tế, trường học, công trình thủy lợi… thì sự đóng góp của nhân dân là bắt buộc; chủ yếu bằng công sức lao động dưới hình thức lao động công ích có tổ chức chặt chẽ. Công trình mang tính chất kinh doanh của tập thể, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế thì chủ kinh doanh có trách nhiệm huy động vốn và thực hiện quá trình đầu tư; một phần vốn huy động từ cộng đồng dân cư và phải được hoàn trả theo nguyên tắc của kinh tế thị trường (có vay, có trả). Cách thức huy động vốn trong dân phải khác với cách huy động trong thời chiến hoặc thời bao cấp trước đây; việc huy động vốn trong dân phải tuân theo pháp luật, có tổ chức, không hô hào chung chung. Quản lý, chi tiêu nguồn vốn huy động từ trong dân phải hợp lý, đúng đối tượng; tránh trường hợp mỗi cấp thành lập một Ban quản lý và mỗi Ban này giữ lại 5% để chi phí hành chính thì nguồn vốn đến đối tượng được hưởng không còn bao nhiêu.
 
Năm là: Hoàn thiện thủ tục pháp lý về giao đất, xây dựng chính sách thuế và thương mại phù hợp
 
Mặc dù đất đai trong các Khu KTQP là tiềm năng có sẵn và phần lớn chưa được khai thác; quân đội xây dựng các Khu KTQP là để khai thác tiềm năng đang ngủ yên đó để tổ chức quy hoạch phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, quy hoạch dân cư theo yêu cầu của sản xuất và QP - AN. Tuy nhiên, đất đai lại do địa phương quản lý về mặt hành chính; chỉ có đất xây dựng doanh trại của các Đoàn KTQP mới là đất quốc phòng. Thực tế khi triển khai xây dựng các Khu KTQP cho thấy phần lớn đất đai có thể canh tác được đều đã có chủ. Do đó, các Đoàn KTQP phải phối hợp chặt chẽ với ủy ban nhân dân các tỉnh và các ban, ngành, địa phương có liên quan để giải quyết thấu tình, đạt lý vấn đề đất đai; lấy Luật đất đai của Nhà nước làm cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi triển khai thực hiện các dự án trong Khu KTQP đúng tiến độ và chất lượng.
 
Nhà nước cần miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm cả đất trồng lúa, hoa màu và cây công nghiệp cho các hộ gia đình trong Khu KTQP. Trong thời gian từ 5 ÷ 10 năm, Nhà nước miễn thuế cho các hoạt động kinh doanh lâm sản và hàng hóa phục vụ nhân dân trong vùng các xã đặc biệt khó khăn; miễn thuế cho các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong vùng dự án. Các cơ sở công nghiệp của Trung ương và địa phương đứng chân tại địa bàn trong vùng dự án được hưởng các chính sách ưu tiên về thuế theo quy định hiện hành của Nhà nước. Khuyến khích các hộ gia đình, các cơ quan, đơn vị phát triển kinh doanh thương mại, bao gồm cung ứng vật tư hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm cho các Khu KTQP. Có chính sách ưu đãi (miễn, giảm) thuế, vay vốn tín dụng và thời hạn thanh toán; tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý để mọi thành phần kinh tế thành lập doanh nghiệp. Ưu tiên trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của các xã đặc biệt khó khăn. Đối với các xã giáp biên giới, do lịch sử để lại, do quan hệ bà con giữa 2 dân tộc của 2 nước láng giềng nên vẫn còn tồn tại sự giao lưu tình cảm, trao đổi hàng hóa… Nhà nước cần có chính sách cụ thể đối với các địa phương này sao cho không ảnh hưởng đến quan hệ tình cảm giao lưu giữa nhân dân 2 nước và quan hệ ngoại giao giữa 2 quốc gia; đồng thời góp phần tăng cường, củng cố vững chắc quốc phòng - an ninh vùng biên giới.
 
Sáu là: Có chính sách giãn dân, di dân, duy trì cuộc sống dân cư trong vùng dự án hợp lý
 
Về cơ bản, giãn dân không làm thay đổi nhiều đến tâm lý, phong tục, tập quán dân cư; đến phương thức canh tác, sản xuất… Do vậy, cần tập trung hỗ trợ kinh phí cho việc vận chuyển và xây dựng nhà cửa; căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vùng thuộc diện dự án và theo kinh nghiệm của một số dự án đã thực hiện, có thể hỗ trợ mỗi gia đình từ 7 ÷ 10 triệu đồng, hỗ trợ lương thực ăn từ 6 tháng ÷ 1 năm. Trước khi giãn dân, phải có phương án phân chia lại đất đai, bảo đảm mỗi gia đình mới đến phải có đất để ở (đất thổ cư) và đất để sản xuất (đất thổ canh); đồng thời, phải giải quyết tốt mối quan hệ với những gia đình đã, đang sinh sống trong vùng thực hiện dự án. 
 
Còn việc di dân sẽ làm thay đổi cơ bản điều kiện sống của họ. Do vậy, phương án di dân cần phải được chuẩn bị cẩn thận, chu đáo; tránh trường hợp sau khi di dân xong, dân lại trở về quê cũ làm ăn sinh sống. Các gia đình di dân cần được hỗ trợ kinh phí vận chuyển và xây dựng nhà cửa từ 20 ÷ 30 triệu đồng. Căn cứ vào điều kiện canh tác, sản xuất của từng vùng, các gia đình cần được hỗ trợ lương thực ăn từ 1 ÷ 2 năm. Cần bảo đảm có ngay về đất ở, đất canh tác cho các hộ gia đình theo quy định của Chính phủ. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian dài, ít nhất cũng phải bằng thời gian chu kỳ kinh doanh cây lâu năm (đã được định hướng quy hoạch nuôi trồng ở vùng đó).
 
Cùng với các chính sách bảo đảm cho từng hộ gia đình và người lao động trong vùng dự án, cần phải thực hiện đồng bộ các chính sách bảo đảm đối với các cụm dân cư cũng như cả vùng; nhằm ổn định cuộc sống dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh. Quan tâm thích đáng đến chính sách đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Xây dựng phương án bao gồm cả thiết kế kỹ thuật cho các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu: điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ, công sở (đối với các cụm dân cư mới). 
 
Bảy là: Quan tâm thỏa đáng tới chính sách đối với người dân lao động, trí thức trẻ tình nguyện
 
Đối với người dân lao động, cần triển khai thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội và các chính sách bảo hiểm; trong đó, cần đặc biệt quan tâm tới chính sách bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho nhân dân. Chú ý tới các điều kiện bảo đảm sinh hoạt cộng đồng, các hoạt động dịch vụ, sự nghiệp xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin và các điều kiện bảo đảm cho lao động, học tập, sinh hoạt, vui chơi giải trí của nhân dân. Nhà nước cần có chính sách ưu tiên về giáo dục, đào tạo đối với con em các gia đình định cư ở các Khu KTQP như đối với con em các dân tộc thiểu số. Bộ Quốc phòng ưu tiên cử tuyển con em họ đi đào tạo ở các trường trong và ngoài quân đội về những lĩnh vực, ngành nghề phục vụ cho nhiệm vụ phát triển sản xuất tại địa bàn; hỗ trợ kinh phí đào tạo cho các đơn vị thực hiện tự đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ nhằm nâng cao dân trí và đem lại lợi ích thiết thực cho người dân lao động.
 
Đối với trí thức trẻ tình nguyện, cần có chính sách hợp lý để phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên; cùng quân đội góp phần tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn các Khu KTQP. Các cơ quan chức năng, đặc biệt là Bộ Quốc phòng cần xem xét lại quy định tuyển dụng hiện hành để tạo điều kiện tối đa cho các trí thức trẻ tình nguyện; bảo đảm sau khi hoàn thành nhiệm vụ vùng dự án, được ở lại công tác lâu dài tại các Đoàn KTQP khi có nguyện vọng. Có như vậy mới thực sự thu hút được các đoàn viên thanh niên tình nguyện đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đến công tác tại các Khu KTQP.
 
*     *
*
 
Hoàn thiện cơ chế, chính sách hoạt động của Đoàn KTQP là vấn đề rất cần thiết; góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả xây dựng và hoạt động của các Khu KTQP trong tình hình mới; thực hiện thắng lợi chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; phù hợp với xu thế phát triển của tình hình thế giới và nhiệm vụ cách mạng giai đoạn hiện nay. Trong thời gian tới, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và phát triển./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Quốc phòng (2021), Báo cáo tổng kết của một số quân khu và đoàn kinh tế quốc phòng tại Hội nghị tổng kết xây dựng các khu kinh tế quốc phòng giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội.
2. Bộ Quốc phòng (2021), Báo cáo tổng kết xây dựng các khu kinh tế quốc phòng giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội.
3. Bộ Quốc phòng (2021), Văn bản pháp lý và tham luận của các địa phương, bộ, ngành và cơ quan Bộ Quốc phòng tại Hội nghị tổng kết xây dựng các khu kinh tế quốc phòng giai đoạn 2010- 2020, Hà Nội.

Đại tá, ThS. Nguyễn Xuân Nghĩa
Thượng tá, TS. Lê Thành Công
Cục Kinh tế/Bộ Quốc phòng