Kinh tế quân đội

    Chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Bộ đội lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế, Ngày truyền thống Cục Kinh tế/BQP (23/8/1956 - 23/8/2021) và đón nhận Huân chương Lao động Hạng 3

Kết quả 10 năm xây dựng khu Kinh tế Quốc phòng và định hướng trong thời gian tới

15/09/2021, 15:29

Xây dựng các Khu kinh tế quốc phòng là chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước để quản lý, bảo vệ địa bàn chiến lược, trọng yếu, biển giới, biển đảo. Kết quả xây dựng, phát triển các Khu kinh tế quốc phòng 10 năm qua góp phần quan trọng giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; an ninh biên giới quốc gia được giữ vững, đời sống nhân dân khu vực biên giới từng bước được cải thiện, nâng lên.

Đại tá Phạm Toàn Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế/BQP (Thứ tư từ trái sang) kiểm tra mô hình giảm nghèo trong vùng dự án của Đoàn KT-QP 379 (Quân khu 2).

Thực hiện Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ và Quyết định số 1391/QĐ-TTg ngày 9/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Khu kinh tế quốc phòng (KTQP), Bộ Quốc phòng đã lựa chọn những địa bàn đặc biệt khó khăn, trống dân, thưa dân, nhạy cảm về vấn đề dân tộc, tôn giáo dọc biên giới để xây dựng các Khu KTQP. Một mặt, góp phần phát triển kinh tế xã hội (KTXH) các vùng dự án, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó xây dựng thế trận quốc phòng an ninh (QPAN); mặt khác, thực hiện đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng với đồng bào những nơi trước kia là căn cứ cách mạng, căn cứ chiến đấu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Đến hết năm 2020, Bộ Quốc phòng đã triển khai lực lượng xây dựng 28 Khu KTQP trên các địa bàn chiến lược từ biên giới phía Bắc đến Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Trong đó, 24 Khu KTQP đang đầu tư; 02 Khu KTQP đã phê duyệt quy hoạch nhưng chưa đầu tư; 02 Khu KTQP mới phê duyệt đề cương nhiệm vụ, chưa phê duyệt quy hoạch. Tổng nhu cầu vốn đầu tư theo Quyết định số 1391/QĐ-TTg là 19.666 tỷ đồng, trong đó vốn Ngân sách Nhà nước thông qua Bộ Quốc phòng là 11.000 tỷ đồng, còn lại là vốn lồng ghép và vốn khác. Từ năm 2010 đến năm 2020, ngân sách nhà nước đã bảo đảm 4.774 tỉ đồng, đạt 43,4% nhu cầu kế hoạch. Với số vốn đầu tư trên và với sự nỗ lực của các Đoàn KTQP, việc xây dựng các Khu KTQP đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các Khu KTQP đã và đang phát huy hiệu quả trên nhiều mặt, góp phần tạo nên diện mạo, thế và lực mới cả về chính trị, KTXH và QPAN trên vùng đất biên cương của Tổ quốc.
 
Thứ nhất, việc xây dựng nên một hệ thống các Khu KTQP ở những địa bàn xung yếu trên tuyến biên giới đã tạo nên thế và lực mới cho QPAN bảo vệ biên giới. Với việc đưa dân ra sinh sống ổn định tập trung tại khu vực biên giới, địa bàn xung yếu, các Đoàn KTQP đã góp phần quan trọng hình thành các cụm làng, xã; tạo vành đai biên giới trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Từ 2010 - 2020 đã xây dựng mới được 1.318 điểm dân cư tập trung, với 98.634 hộ dân. Hiện nay, đang tiếp tục hỗ trợ trên 100.000 hộ dân theo Quyết định 1391/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các cụm, điểm dân cư được xây dựng đã khắc phục tình trạng một số xã “trắng dân” chưa thành lập được đơn vị hành chính (Khu KTQP Bình Liêu - Hải Hà - Móng Cái/QK3, Khu KTQP Mẫu Sơn/QK1), dân sống tản mát trong rừng (Khu KTQP Mường Chà/QK2). Cơ cấu dân cư dọc biên giới được điều chỉnh; chính quyền cơ sở được củng cố; người dân yên tâm sinh sống và phát triển kinh tế, tích cực tham gia giữ gìn ổn định chính trị trên địa bàn; từ đó tạo nên thế trận QPAN ngày càng vững chắc.
 
Thứ hai, tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ổn định đời sống. Tuy nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, nhưng các hạng mục quan trọng, cấp thiết nhất đã được lựa chọn để tiến hành thực hiện đầu tư (1). Các công trình hạ tầng sau khi xây dựng xong đều được bàn giao cho địa phương quản lý theo đúng quy định và được khai thác, sử dụng có hiệu quả; hỗ trợ tốt cho nhiệm vụ phát triển KTXH địa phương. Tại các Khu KTQP trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung như Binh đoàn 15, Binh đoàn 16, Công ty Cà phê 15 đã tổ chức cho nhân dân trồng cao su, cà phê, điều cao sản, cây nguyên liệu giấy…; tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 20.000 hộ gia đình đồng bào sinh sống trên địa bàn Tây Nguyên. Tại các Khu KTQP không trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung đã giúp dân hiệu quả thông qua việc tổ chức nhiều mô hình sản xuất; làm dịch vụ 2 đầu (cung cấp vật tư nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật cho dân và thu mua, chế biến nông sản, bao tiêu sản phẩm do người dân làm ra); hỗ trợ giống, vốn và chuyển giao kỹ thuật canh tác, chăn nuôi cho các hộ dân (2). Nhờ đó, tại các Khu KTQP, giao thông đã thuận tiện hơn; kinh tế hàng hóa đang từng bước hình thành; người dân được sử dụng điện, nước sạch; tập quán sản xuất tự cấp tự túc dần được chuyển sang thâm canh; tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống hàng năm; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện; văn hóa, y tế, giáo dục từng bước được nâng cao.
 
Thứ ba, làm tốt công tác vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Quá trình xây dựng, phát triển các Khu KTQP trong 10 năm qua luôn gắn chặt với nhiệm vụ công tác dân vận của các Đoàn KTQP. Hành trình tuyên truyền, vận động nhân dân ở các thôn, bản phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả tính mạng của cán bộ, chiến sĩ các Đoàn KTQP (3). Bằng các hoạt động thiết thực, triệt để thực hiện “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào), cán bộ, chiến sĩ các Đoàn KTQP đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân định canh, định cư, giữ đất, giữ làng; thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các phong trào, cuộc vận động do các cấp phát động; đấu tranh, loại bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, dụ dỗ lôi kéo của các thế lực phản động… Những việc làm thiết thực đó đã giúp nhân dân khu vực biên giới thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; yên tâm phấn đấu, xây dựng quê hương mới nơi biên giới. Việc đưa văn hóa, phát thanh, truyền hình về các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; đồng thời triển khai có hiệu quả Chương trình quân, dân y kết hợp; tổ chức khám, chữa bệnh cho dân (4)… đã làm cho nhân dân thêm tin tưởng và yêu mến “Bộ đội Cụ Hồ” ở các Đoàn KTQP.
 
Thứ tư, làm tốt công tác tham mưu, giúp địa phương xây dựng chính quyền cơ sở và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng có liên quan, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững mạnh. Các Đoàn KTQP luôn tích cực, chủ động trong việc tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền cơ sở tại địa phương; giúp địa phương phát triển đảng viên mới, xóa được 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; bồi dưỡng 2.766 quần chúng tạo nguồn phát triển Đảng; đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho hàng ngàn lượt cán bộ trưởng, phó thôn, bản, buôn, ấp, nhất là những nơi yếu kém; kiện toàn, củng cố giúp hàng ngàn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội đi vào hoạt động có nền nếp (5). Hoạt động của đội ngũ Trí thức trẻ tình nguyện tại các Khu KTQP đã phát huy được vai trò xung kích của tuổi trẻ (6); cùng cán bộ, chiến sỹ các Đoàn KTQP tham gia phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng chính quyền cơ sở vùng dự án vững mạnh. Sự phối hợp giữa các lực lượng quân sự - biên phòng - công an trên địa bàn theo Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ (nay là Nghị định số 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019) được duy trì thường xuyên, nghiêm túc, đạt hiệu quả thiết thực; góp phần xây dựng KVPT tỉnh, huyện nơi các Đoàn KTQP đứng chân vững mạnh; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 

Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng kiểm tra Đội sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị số 4/Đoàn KTQP 379 về hoạt động xây dựng Khu KTQP Mường Chà (7.2021)
 
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được rất tích cực, xây dựng các Khu KTQP thời gian qua vẫn còn có những mặt hạn chế.
 
- Mục tiêu xây dựng các Khu KTQP theo Nghị định số 44/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 1391/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn một số nội dung chưa đạt. Quy hoạch chưa đồng bộ, dẫn đến việc triển khai chồng chéo; việc phối hợp triển khai quy hoạch giữa các đơn vị với địa phương chưa cao, làm giảm hiệu quả dự án đầu tư. KTXH vùng dự án tuy có bước phát triển nhưng chưa rõ ràng so với các địa bàn khác; đời sống vật chất, tinh thần của người dân đã được từng bước cải thiện nhưng chưa bền vững, có địa bàn còn chậm phát triển hơn các vùng lân cận do quá phụ thuộc vào nguồn vốn Trung ương.
 
- Tỷ trọng bố trí vốn thấp so với quy hoạch, dẫn đến làm chậm tiến độ đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt; phân kỳ đầu tư chưa hợp lý; một số dự án đầu tư chưa chú trọng đến phong tục tập quán, văn hóa từng dân tộc... làm giảm tần suất, hiệu quả sử dụng. Cơ chế quản lý đối với các dự án đầu tư xây dựng Khu KTQP còn có những bất cập cả phía cơ quan quản lý của Bộ Quốc phòng và đơn vị thực hiện. Việc phối hợp các cơ quan trong xây dựng kế hoạch đầu tư; phân bổ, bố trí vốn đầu tư hàng năm cho xây dựng các Khu KTQP còn chưa hợp lý. Vai trò tham mưu của cơ quan quản lý ngành chưa được phát huy (Cục Kinh tế/Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý ngành nhưng không được tham mưu đề xuất thường xuyên vào quá trình xây dựng kế hoạch cũng như phân bổ nguồn lực); ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng mục tiêu xây dựng Khu KTQP.
 
- Mô hình tổ chức sản xuất tập trung tại các Khu KTQP địa bàn Tây Nguyên để thu hút đồng bào vào làm công nhân tiềm ẩn nhiều rủi ro khi giá sản phẩm nông nghiệp không ổn định, doanh nghiệp thua lỗ, trong khi kinh tế hộ gia đình chưa được chú trọng đúng mức; cơ cấu dân cư trong khu vực có thể mất cân đối do nhu cầu tuyển dụng lao động nông nghiệp rất lớn. Các Đoàn KTQP vẫn còn lúng túng trong việc phối hợp, thống kê, đánh giá các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hỗ trợ dân thoát nghèo; chưa chú trọng đúng mức cho phát triển kinh tế hộ gia đình. Hỗ trợ phát triển dịch vụ 2 đầu còn hạn chế về số lượng mô hình và hiệu quả hoạt động. Một số mô hình sản xuất, chế biến nông sản, nông cụ, sản phẩm cơ khí đã từng bước được hình thành nhưng phạm vi ảnh hưởng, tác động tích cực đến đời sống của nhân dân vùng dự án còn hạn chế.
 
- Các Đoàn KTQP chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác dân vận. Cán bộ Đoàn KTQP chưa thực sự tìm hiểu sâu, nắm vững phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào; sử dụng tiếng dân tộc tại chỗ và cán bộ là người dân tộc tại chỗ chưa được chú trọng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa Đoàn KTQP với Bộ Chỉ huy quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Công an tỉnh tại một số nơi chưa chặt chẽ. Quan hệ phối hợp của một số Đoàn KTQP với địa phương chưa tốt; nhất là trong công tác bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư; xác định các công trình đầu tư; phối hợp lồng ghép các nguồn vốn; thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn.
 
- Biên chế tổ chức của Đoàn KTQP còn bất cập, chậm và chưa được kiện toàn theo chức năng nhiệm vụ của Bộ Tổng Tham mưu giao. Việc luân chuyển cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì ở một số Đoàn KTQP quá nhanh; nhiều vị trí được sử dụng như để giải quyết chính sách chức danh, trần quân hàm đối với cán bộ đã làm ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Cán bộ có chuyên môn về quản lý dự án, kỹ thuật nông, lâm nghiệp của Đoàn KTQP còn thiếu và yếu. Địa bàn quản lý của Đoàn KTQP rộng và phân tán, có khi trải rộng trên 2 - 3 tỉnh, trong khi quy mô của Đoàn lại thu nhỏ; nên công tác chỉ đạo, quản lý thực hiện dự án gặp khó khăn và hiệu quả không cao. 
 
Để thời gian tới, việc xây dựng và phát triển các Khu KTQP đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
 
Một là, tiếp tục làm tốt việc quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát triển các Khu kinh tế quốc phòng
 
Chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch xây dựng và phát triển Khu KTQP theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp chặt chẽ với địa phương và các bộ, ngành liên quan của Nhà nước triển khai thực hiên tốt các mục tiêu và tiến độ tại Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với khả năng bảo đảm của ngân sách Nhà nước; ưu tiên triển khai xây dựng Khu KTQP Trường Sa, Tây Nam Bộ. Chuẩn bị các yếu tố để dự kiến đến năm 2025 kết thúc đầu tư xây dựng một số Khu KTQP: Bát Xát/QK2, Bắc Hải Sơn/QK3, Aso - Alưới/QK4, Cưmga/QK5. Đề xuất phương án bàn giao lại địa bàn Khu KTQP đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ cho chính quyền địa phương chủ động trong quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
 
Hai là, đẩy mạnh công tác hỗ trợ dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng gắn với đời sống người dân 
 
Phối hợp chặt chẽ với địa phương trên địa bàn Khu KTQP, các cơ quan chuyên môn của tỉnh, huyện làm tốt công tác thống kê các hộ nghèo, khó khăn để có biện pháp hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở; nâng cao đời sống cho người dân. Sắp xếp, ổn định dân cư trong Khu KTQP gắn với quy hoạch dân cư của tỉnh, huyện. Đẩy mạnh việc bàn giao đất cho địa phương; chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo đúng quy định, tạo quỹ đất để giao cho địa phương bảo đảm cho người dân. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tập trung ưu tiên đầu tư một số công trình gắn chặt với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân. Thực hiện có hiệu quả các dự án lồng ghép, Chương trình mục tiêu quốc gia để nhanh chóng tạo nên bộ mặt mới trong phát triển KTXH trên tuyến biên giới. Các bản, cụm bản được xây dựng đảm bảo đầy đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu; đủ đất ở và đất sản xuất cho người dân. Khẩn trương quyết toán các công trình hoàn thành, bàn giao cho địa phương quản lý, khai thác, sử dụng, nâng cao hiệu quả đầu tư. 
 
Ba là, tổ chức lại các mô hình sản xuất tại các Khu kinh tế quốc phòng
 
Tổ chức lại mô hình sản xuất tại các Khu KTQP theo hướng: tập trung ưu tiên phát triển kinh tế hộ gia đình; đẩy mạnh hình thức dịch vụ 2 đầu giúp dân phát triển kinh tế (cung cấp giống, vật tư nông nghiệp, hỗ trợ bao tiêu sản phẩm, chuyển giao kỹ thuật...) thông qua hoạt động trực tiếp của Đoàn KTQP hoặc giúp chính quyền địa phương tổ chức dịch vụ, tạo điều kiện cho người dân tự vươn lên trong xóa đói, giảm nghèo (Đoàn KTQP có thể tổ chức các mô hình nhỏ, hỗ trợ chính quyền địa phương triển khai bằng việc tổ chức mô hình các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã làm dịch vụ 2 đầu giúp dân). Kiên quyết không để đồng bào trong vùng dự án Khu KTQP bị đói; bảo đảm đủ diện tích đất ở, đất sản xuất cho đồng bào; từng bước giúp dân thoát nghèo, nâng cao và giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, ổn định phát triển cuộc sống. Chuẩn bị sẵn sàng mọi yếu tố để có thể chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở vật chất cho chính quyền địa phương khi có yêu cầu. Triển khai thực hiện nghiêm Đề án sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (thực hiện đối với Binh đoàn 15, Binh đoàn 16, Công ty cà phê 15).
 
Bốn là, đề xuất cấp có thẩm quyền tăng cường nguồn lực tài chính và phối hợp chặt chẽ với địa phương lồng ghép có hiệu quả các nguồn lực xã hội trong xây dựng Khu kinh tế quốc phòng
 
Báo cáo Chính phủ và các cơ quan Nhà nước tăng cường vốn đầu tư hàng năm của ngân sách Nhà nước cho hoạt động xây dựng Khu KTQP; sắp xếp, ổn định dân cư, xóa đói giảm nghèo bền vững; đảm bảo quy hoạch được thực hiện đúng tiến độ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ cấu lại vốn đầu tư, tập trung cho dân phát triển kinh tế, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ cho phát triển sản xuất; đầu tư xây dựng doanh trại gắn với chuyển giao cho cơ sở chính quyền làm việc về sau. Nghiên cứu và xây dựng các chính sách phù hợp nhằm thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế tham gia thích hợp vào xây dựng các Khu KTQP. Phát huy vai trò trách nhiệm của các Doanh nghiệp Quân đội trong đầu tư, hỗ trợ các nguồn lực; làm nòng cốt giúp dân phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Đề xuất với Chính phủ phương án sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho người dân vay vốn để phát triển sản xuất; đầu tư các tiểu dự án trong địa bàn Khu KTQP, thông qua Đoàn KTQP. Tham gia tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững của Chính phủ gắn với xây dựng địa bàn Khu KTQP. Chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ; huy động hiệu quả hơn các nguồn lực của Doanh nghiệp Quân đội tham gia hỗ trợ các huyện nghèo. Phối hợp với địa phương triển khai các mô hình hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo gắn với QPAN. Sử dụng hiệu quả đội ngũ Trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các Khu KTQP; có chính sách đặc thù trong tuyển dụng, đào tạo đội ngũ Trí thức trẻ tình nguyện công tác lâu dài tại Đoàn KTQP.
 
Năm là, thống nhất tổ chức biên chế, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Đoàn kinh tế quốc phòng và đẩy mạnh thực hiện quy chế phối hợp quản lý địa bàn Khu kinh tế quốc phòng
 
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị khảo sát thực trạng, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế các Đoàn KTQP để đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh tổ chức, biên chế cho phù hợp. Nghiên cứu tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đoàn KTQP với chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại một số Đoàn KTQP có tổ chức sản xuất kinh doanh tập trung. Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ đủ khả năng làm chủ đầu tư dự án Khu KTQP. Giảm tối đa biên chế của khối cơ quan; tăng cường quân số cho các đơn vị, đội sản xuất. Đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, cán bộ là người dân tộc ở địa phương, Trí thức trẻ tình nguyện. Tập trung huấn luyện, đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Đoàn KTQP đủ năng lực, trình độ chuyên môn; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Không ngừng nâng cao nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ Đoàn KTQP về mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Khu KTQP. Thường xuyên bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch phối hợp các lực lượng tham gia thực hiện giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn các Khu KTQP theo Nghị định số 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Thủ tướng Chính phủ. Chú trọng công tác xây dựng thế trận QPAN bền vững thông qua việc bố trí dân cư, huấn luyện quân nhân dự bị trong thế trận khu vực phòng thủ tỉnh, huyện.
 
Sáu là, kịp thời nắm bắt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về Khu KTQP
 
Xuất phát từ tình hình thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 về Khu KTQP để thay thế Nghị định số 44/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 về Xây dựng Khu KTQP. Các cơ quan, đơn vị, Đoàn KTQP tổ chức nghiên cứu kỹ Nghị định số 22, đặc biệt là những điểm mới về: hợp phần quy hoạch Khu KTQP; cơ cấu nguồn vốn, cơ chế đầu tư, chính sách tài chính trong xây dựng, quản lý Khu KTQP; chế độ, chính sách đối với các đối tượng thực hiện nhiệm vu tại Khu KTQP. Từ đó vận dụng linh hoạt, sáng tạo; phát huy tối đa nội lực và tranh thủ ngoại lực; tạo đột phá trong xây dựng, phát triển các Khu KTQP thời gian tới.
 
*     *
*
 
Xây dựng Khu KTQP là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Thực tiễn hoạt động của các Khu KTQP đã khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược cả về KTXH và QPAN. Ý thức rõ vinh dự, trách nhiệm và chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, các cơ quan, đơn vị, Đoàn KTQP tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng các Khu KTQP, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị định số 44/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về Xây dựng Khu KTQP.
2. Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về Khu KTQP
3. Quyết định số 1391/QĐ-TTg ngày 09/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch xây dựng và phát triển các Khu KTQP đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.
4. Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch xây dựng và phát triển các Khu KTQP đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.
5. Báo cáo Tổng kết 10 năm (2010 - 2020) thực hiện Nghị định số 44/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng Khu Kinh tế quốc phòng của Cục Kinh tế/Bộ Quốc phòng.


CHÚ THÍCH
 

(1) Tại các Khu KTQP đã hoàn thành xây dựng 403 tuyến đường giao thông các loại với tổng chiều dài 1.499 km; 89 cầu với tổng chiều dài 1.296 m; 390 phòng lớp học với tổng diện tích 43.786 m2; 130 công trình điện với 14.636 km đường dây và 154 trạm biến áp; 114 công trình cấp nước sạch tập trung; 58 trạm xá và 33 bệnh xá quân dân y; 166 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, với 1.482 km kênh mương; 39 chợ, nhà văn hóa cùng nhiều công trình khác đã và đang thi công.
 
(2) Từ năm 2010 đến nay đã triển khai được 266 mô hình chăn nuôi cho 10.759 hộ dân; 18 mô hình trồng trọt cho 7.526 hộ dân; tập huấn chuyển giao kỹ thuật được 537 lớp cho 21.774 lượt người tham gia.
 
(3) Trường hợp Trung tá Hoàng Văn Hoa, Đoàn KTQP 379/QK2, trong một chuyến đi vận động nhân dân, bị trọng bệnh; vì đường giao thông đi lại khó khăn nên đã chết trên đường đi cấp cứu.
 
(4) Hệ thống bệnh xá quân dân y đã khám bệnh cho 1.699.584 lượt bệnh nhân; tiêm chủng 82.630 lượt người; thu dung điều trị trên 200.000 bệnh nhân; cấp cứu trên 12.000 bệnh nhân; phẫu thuật trên 15.000 trường hợp. Số trạm y tế, bệnh xá quân dân y thuộc các Khu KTQP được củng cố là 58 trạm y tế và 33 bệnh xá quân dân y.
 
(5) Củng cố 44 ủy ban nhân dân xã, 25 ban công an, 21 ban quân sự, 282 tổ chức đoàn, 258 hội phụ nữ, 9 hội cựu chiến binh, 52 hội nông dân xã hoạt động tốt. Xây dựng 2.169 tổ an ninh nhân dân, 267 tổ hòa giải. 
 
(6) Theo Quyết định số 174/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ, với 500 chỉ tiêu trí thức trẻ tình nguyện/năm; đã có tổng số 2.648 lượt đội viên tham gia.
 
Thượng tá, TS. Lê Thành Công
Cục Kinh tế/Bộ Quốc phòng