Thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các Doanh nghiệp Quân đội

20/10/2020, 15:36

Sau hơn 30 năm hội nhập và phát triển, Việt Nam không chỉ là một quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng đầu trong khu vực mà còn vươn lên trở thành quốc gia có nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN). Hoạt động ĐRRNN của Việt Nam ngày càng đa dạng, thể hiện rõ nét qua thị trường, ngành nghề đầu tư, quy mô, hình thức đầu tư, các loại hình kinh tế và doanh nghiệp tham gia đầu tư.

Thương hiệu MyTel của Viettel tại Myanmar đã vượt 10 triệu thuê bao, vươn lên vị trí thứ 2 trong các nhà mạng tại nước sở tại.

Hòa chung trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của đất nước, các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) đã tích cực, chủ động tận dụng tốt những cơ hội từ quá trình hội nhập, khắc phục khó khăn, nhất là những khó khăn mang tính đặc thù trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng để đẩy mạnh hoạt động ĐTRNN và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần thiết thực vào kết quả hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của cả nước.
 
Lũy kế đến hết tháng 7/2020, Bộ Quốc phòng có 09 DNQĐ triển khai hoạt động ĐTRNN với tổng số 42 dự án trong các lĩnh vực bưu chính viễn thông, khai thác khoáng sản, trồng cây công nghiệp, xây dựng, vật liệu xây dựng, kinh doanh thương mại và dịch vụ. Tổng vốn đầu tư đăng ký theo Giấy chứng nhận đầu tư của các dự án là 5.253,5 triệu USD. Tổng vốn đầu tư được phép chuyển ra nước ngoài là 3.256,2 triệu USD. Lũy kế tổng vốn đầu tư đã thực hiện ĐTRNN là 1.916,7 triệu USD. Nhiều dự án có quy mô đầu tư lớn, thời gian triển khai nhanh. Một số doanh nghiệp như Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Tập đoàn Viettel), Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu 4 đã vươn lên trở thành những doanh nghiệp có hoạt động ĐTRNN lớn của Việt Nam. 
 
Quá trình triển khai, thực hiện dự án ĐTRNN, các DNQĐ chấp hành tốt các quy định pháp luật của Nhà nước về quy trình, thủ tục đầu tư; về việc chuyển ngoại tệ, lao động, máy móc…ra nước ngoài; quy định về thông báo, báo cáo thực hiện dự án. Tại các nước tiếp nhận đầu tư, hầu hết các dự án ĐTRNN của các DNQĐ đều chấp hành, thực hiện việc đăng ký kinh doanh và tuân thủ nghiêm, đầy đủ quy định pháp luật liên quan của nước sở tại.
 
Đa số các dự án ĐTRNN của các DNQĐ có kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt, đã có lãi và có dòng tiền thu hồi vốn đầu tư. Một số dự án trong lĩnh vực viễn viễn thông của Viettel (tại Lào, Campuchia, Đông Timo) và trong lĩnh vực khai thác khoáng sản tại Lào của Tổng công ty hợp tác kinh tế/QK4 có hiệu quả đầu tư cao, đã thu hồi số tiền gấp nhiều lần số vốn đầu tư đã thực hiện.
 
Lũy kế tổng vốn đầu tư đã thu hồi của các dự án ĐTRNN của các DNQĐ hết năm 2019 là 820,29 triệu USD, tương đương 42,8% tổng vốn đầu tư đã thực hiện, cao hơn khoảng 11% so với trung bình chung các dự án ĐTRNN của cả nước (thu hồi vốn trung bình của cả nước đạt 31,6%).
 
Ngoài hiệu quả kinh tế, các DNQĐ trong quá trình triển khai hoạt động ĐTRNN đã gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh và gắn liền với thực hiện trách nhiệm xã hội đối với nhà nước, chính quyền sở tại và nhân dân tại địa bàn dự án thông qua việc đóng góp, tài trợ hoặc trực tiếp tham gia các chương trình, hoạt động nhân đạo; xóa đói, giảm nghèo; khắc phục hậu quả thiên tai…góp phần xây dựng và thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp với chính quyền và nhân dân nước tiếp nhận đầu tư; nâng cao hình ảnh, uy tín của Nhà nước, Quân đội và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam; góp phần thúc đẩy quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao và đối ngoại quốc phòng giữa Việt Nam với các quốc gia tiếp nhận đầu tư. 
 
Một số DNQĐ được giao nhiệm vụ quốc phòng - an ninh tại địa bàn Lào, Campuchia đã kết hợp triển khai nhiều dự án đầu tư tại các địa bàn trọng điểm, chiến lược và dọc tuyến biên giới giữa Việt Nam với Lào và Campuchia. Các dự án này không chỉ góp phần tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được giao mà còn góp phần tích cực trong xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định giữa Việt Nam với Lào, Campuchia; góp phần xây dựng thế trận phòng thủ toàn dân, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; góp phần tăng cường nguồn lực và tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được giao.
 
Các dự án ĐTRNN của Tập đoàn Viettel và Tổng công ty Hợp tác kinh tế/QK4 hiện là điểm sáng trong lĩnh vực ĐTRNN của các doanh nghiệp Nhà nước, thể hiện được hình ảnh Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và DNQĐ nói riêng đến bạn bè, đối tác trên thế giới.
 
Tuy nhiên, hoạt động ĐTRNN thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế về trình tự, thủ tục, không đúng với nội dung đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc quy định của nước sở tại  gây hậu quả pháp lý. Hiệu quả đầu tư của một số dự án thấp, tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ; một số dự án không đảm bảo được kế hoạch về lợi nhuận và thu hồi vốn theo kế hoạch ban đầu.
 
Nguyên nhân khách quan của những tồn tại hạn chế trong hoạt động ĐTRNN  là những khó khăn gặp phải từ sự khác biệt về thị trường, ngôn ngữ, văn hóa; thủ tục pháp lý; đa số thị trường đầu tư của các DNQĐ là những nước kém phát triển, pháp luật nói chung và pháp luật đầu tư nước ngoài chưa đồng bộ, rõ ràng minh bạch, hay thay đổi; một số thị trường chưa ký kết hiệp định bảo hộ đầu tư với Việt Nam, dễ bị tác động bởi yếu tố chính trị; đối tác coi thường, không tuân thủ pháp luật. DNQĐ trong quá trình trình triển khai dự án đầu tư tại các quốc gia này thường xuyên gặp phải các thay đổi, biến động về: kinh tế (giá nguyên, nhiên, vật liệu); chính sách, quy định liên quan về thương mại, đầu tư, thuế, phí…; chính trị, xã hội và an ninh an toàn; biến động tỷ giá USD… ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
 
Nguyên nhân chủ quan của những tồn tại, hạn chế nêu trên chủ yếu do một số doanh nghiệp triển khai hoạt động ĐTRNN còn mang tính dàn trải, chạy theo số lượng dự án ĐTRNN, thiếu tính chiến lược, không phù hợp với ưu thế, năng lực và nguồn lực của doanh nghiệp; chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ trình độ, năng lực quản lý, kiến thức về ngoại ngữ, pháp luật quốc tế đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của hoạt động ĐTRNN. Một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác nghiên cứu, khảo sát lập dự án đầu tư; chưa nghiên cứu, tìm hiểu, nắm chắc cơ chế, chính sách và pháp luật về đầu tư của nước sở tại, đối tác đầu tư; chưa tìm hiểu kỹ về văn hóa, ngôn ngữ, xã hội, tập quán ở những nước tiếp nhận đầu tư; chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố rủi ro ảnh hưởng tới việc triển khai cũng như hiệu quả của dự án đầu tư.
 
Những năm tới đây, tình hình chính trị thế giới vẫn theo xu hướng hòa bình, hợp tác là chủ đạo nhưng một số nước lớn đang gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng, đối đầu chiến lược, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Một số quốc gia đang gia tăng đầu tư tại Lào và Campuchia với nhiều dự án quy mô rất lớn tại các địa bàn chiến lược Tây Nam và dọc tuyến biên giới Việt Nam với các nước, tạo sức ép lên thế trận quốc phòng - an ninh của ta.
 
Hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi hơn từ các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực, đặc biệt là Hiệp định CPTPP và EVFTA. Tuy nhiên, hoạt động ĐTRNN thời gian tới cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức mới từ việc chấp hành các nghĩa vụ theo các cam kết của các hiệp định thương mại tự do và sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch. Bên cạnh đó, sự phát triển của Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ, diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, dịch bệnh sẽ tác động lớn đến hình thức, phương thức và biện pháp triển khai hoạt động ĐTRNN.
 
Để tạo điều kiện cho các DNQĐ thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTRNN, trong thời gian tới, Cục Kinh tế/BQP sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng BQP triển khai thực hiện một số giải pháp sau đây:
 
Một là, thẩm định chặt chẽ, đúng quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng đối với đề xuất mở mới dự án, chỉ đạo các DNQĐ rà soát cắt giảm các dự án đầu tư không có hiệu quả, đề xuất phương án xử lý.
 
Hai là, tăng cường nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát hoạt động ĐTRNN, tư vấn pháp lý nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các dự án ĐTRNN; kịp thời báo cáo Thủ trưởng Bộ Quốc phòng những vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp.
 
Ba là, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước, Bộ Quốc phòng có liên quan tăng cường các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ hoạt động đầu tư nước ngoài, chú trọng các biện pháp hỗ trợ cung cấp thông tin về môi trường, cơ hội đầu tư, bảo hộ quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài; thông báo tình hình kịp thời cho các doanh nghiệp khi nước ngoài có chính sách thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp.
 
Bốn là, tăng cường công tác tập huấn, đào tạo bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về quản trị doanh nghiệp, trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ doanh nghiệp liên quan tới hoạt động ĐTRNN; mở các lớp đào tạo về quản lý đầu tư nước ngoài, các lớp bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu về hội nhập kinh tế quốc tế, kiến thức về pháp luật trong hoạt động kinh tế có yếu tố nước ngoài.
 
Ngoài các giải pháp nêu trên, Cục Kinh tế/BQP sẽ chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư, triển vọng thị trường; các khó khăn, vướng mắc để xây dựng lại kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu hồi vốn đầu tư của từng dự án một cách sát thực. Trên cơ sở đó sẽ tổng hợp, điều chỉnh hoàn thiện lại Kế hoạch ĐTRNN của các DNQĐ đến năm 2020, định hướng đến 2025 báo cáo Bộ Quốc phòng phê duyệt, làm cơ sở cho các DNQĐ thúc đẩy triển khai và nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTRNN thời gian tới.
 
Các DNQĐ cần lưu ý một số nội dung sau:
 
Thứ nhất, tiếp tục phát huy tính tích cực, chủ động, bản lĩnh của Bộ đội cụ Hồ để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và ĐTRNN nói riêng.
 
Thứ hai, các DN cần chủ động nghiên cứu nắm bắt các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, đặc biệt là các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA để làm tốt công tác nghiên cứu, khảo sát thị trường tìm kiếm cơ hội đầu tư trong các lĩnh vực, địa bàn  phù hợp với chiến lược phát triển, tiềm năng, lợi thế và nguồn lực của doanh nghiệp, đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả; không thực hiện đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả.
 
Bên cạnh đó,  cần chú ý thực hiện tốt công tác nghiên cứu, khảo sát lập dự án đầu tư, nắm chắc cơ chế, chính sách và pháp luật đầu tư của nước sở tại; đánh giá đầy đủ các yếu tố rủi ro ảnh hưởng tới việc triển khai cũng như hiệu quả của dự án đầu tư.
 
Thứ ba, thực hiện ngay việc rà soát, hoàn thiện thủ tục đầu tư theo đúng quy định pháp luật của Nhà nước có liên quan về ĐTRNN; rà soát các thỏa thuận, hợp đồng hợp tác, liên doanh trong hoạt động ĐTRNN tại từng thị trường, trên cơ sở đó bổ sung, chỉnh sửa các quy định về hợp tác, liên doanh theo tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với quy định pháp luật của từng thị trường, phù hợp với tập quán, văn hóa, kinh tế, xã hội của các quốc gia tiếp nhận đầu tư nhằm hạn chế các yếu tố rủi ra phát sinh ảnh hưởng tới hoạt động và hiệu quả đầu tư của các dự án.
 
Thứ tư, tăng cường nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, quản trị doanh nghiệp; đổi mới công nghệ, trang thiết bị; triển khai các giải pháp khắc phục khó khăn, rủi ro; tiết giảm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận và thu hồi vốn của các dự án ĐTRNN đã và đang triển khai; quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư không để thất thoát. Quản lý chặt chẽ lao động Việt Nam tại nước ngoài, không để ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại giữa Việt Nam và nước sở tại.
 
Thứ năm, thực hiện ngay việc đánh giá, phân loại các dự án hoạt động có hiệu quả; hoạt động không hiệu quả, có nguy cơ không thu hồi được vốn đầu tư; các dự án tiềm ẩn rủi ro có thể dẫn tới nguy cơ không bảo toàn được vốn đầu tư. Trên cơ sở đó nghiên cứu, đề xuất với Thủ trưởng Bộ Quốc phòng các phương án xử lý cụ thể.
 
Thứ sáu, tích cực, chủ động tận dụng những thành tựu của Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, sự phát triển của khoa học kỹ thuật để nghiên cứu, áp dụng các hình thức, phương thức và biện pháp triển khai hoạt động ĐTRNN mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, quản trị, điều hành, tiết giảm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ĐTRNN.
 
Hoạt động ĐTRNN thời gian qua đã được các đơn vị, DNQĐ quan tâm thúc đẩy, triển khai thực hiện. Mặc dù còn một số tồn tại, hạn chế nhưng những kết quả đã đạt được là tích cực, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNQĐ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Những năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng. Thời cơ và thách thức trong hoạt động ĐTRNN là rất lớn. Các DNQĐ cần phát huy phẩm chất và bản lĩnh của người lính, chủ động phát huy những thành tích đã đạt được, kinh nghiệm đã rút ra, khắc phục những tồn tại, hạn chế để thúc đẩy và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động ĐTRNN.

THIẾU TƯỚNG TRẦN ĐÌNH THĂNG